Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Trong thời gian gần đây, số lượng bệnh nhân đến khám tại phòng khám Khoa Tim Mạch với tình trạng ngất tương đối tăng.Vây thì ngất là gì , nguyên nhân nào gây ra cơn ngất và làm sao để phát hiện ra ngất?


Chúng ta nên biết rằng ngất là tình trạng mất ý thức tạm thời kèm theo mất trương lực tư thế gây ra bời giảm lưu lượng máu não.
Theo nghiên cứu của Mỹ: ngất chiếm # 1% số bệnh nhân nhập viện và # 3% số bệnh nhân cấp cứu.
Vậy làm sao để biết một trẻ là có ngất?
Thông thường trước khi ngất trẻ sẽ có triệu chứng choáng váng hoặc mắt tối xầm lại, ù tai, cảm giác buồn nôn hoặc nôn, mặt tái nhợt và toát mồ hôi lạnh, ta gọi đây là giai đoạn tiền triệu. Giai đoạn này xảy ra rất nhanh, hiếm khi quá 30 giây. Tuy nhiên trong một số trường hợp trẻ lại không có giai đoạn tiền triệu này ( như là nhịp nhanh thất, rung thất hoặc vô tâm thu gây ra ngất). Vào lúc khởi đầu của cơn ngất bệnh nhân thường ở tư thế đứng, cho nên giai đoạn tiền triệu này có thể giúp bệnh nhân có thời gian để nằm xuống tránh được các chấn thương do té ngã.
Tình trạng mất ý thức dài hay ngắn, còn nhận biết môi trường xung quanh hay hôn mê sâu thì tuỳ thuộc vào từng bệnh nhân, có khi kéo dài vài giây đến vài phút hoặc có thể lâu đến 30 phút. Thường thì ý thức của bệnh nhân sẽ phục hồi ngay nhưng ở 1 số bệnh nhân vẫn còn cảm thấy yếu ớt, và đứng dậy quá sớm có thể gây ra một cơn ngất khác.
Vây nguyên nhân ngất là gì?
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra ngất: nguyên nhân thường gặp nhất là ngất có nguồn gốc phó giao cảm( 20 -40%) và khoảng 30% là không tìm thấy nguyên nhân.
  • Ngất do phó giao cảm.
  • Ngất do tư thế đứng
  • Ngất do tim.
  • Ngất do xoang cảnh.
  • Ngất do tăng áp động mạch phổi nguyên phát.
  • Ngất do thần kinh thiệt hầu và thần kinh X.
  • Ngất do mạch máu não.
  • Ngất do tiểu tiện.
  • Ngất do tăng áp lực trong lồng ngực.
Ngoài ra chúng ta cũng có những bệnh cảnh lâm sàng tương tự như ngất như : động kinh, chóng mặt, tăng thông khí, cơn thoáng thiếu máu não,cơn hạ đường huyết hoặc Hysteria.
Nói tóm lại: ngất có thể do nhiều nguyên nhân gây ra hoặc không có nguyên nhân và có thể nhầm lẫn triệu chứng với những bệnh khác. Vì thế khi phụ huynh thấy trẻ có cơn ngất như nêu trên , hãy cho trẻ đến những cơ sở Chuyên Khoa Khi để được khám và kiểm tra nhằm tìm nguyên nhân của bệnh . Bởi vì những bệnh nhân bị ngất không rõ nguyên nhân có tỉ suất tử vong sau 1 năm là 6% và tần suất đột tử là 4%, còn  những bệnh nhân bị ngất do nguyên nhân tim thì có tỉ suất tử vong sau 1 năm là từ 18 -33% và tần suất đột tử là 24%.Cho nên đây là một tình huống cần phải cảnh giác, chớ có bỏ qua vì nó sẽ có thể gây ra những hậu quả nặng nề về sau.

Hiện nay, nền công nghệ thông tin phát triển rất nhiều và người dân có thể tiếp cận với các tư liệu về bệnh qua sách báo, Internet.Tuy nhiên, bệnh viêm cơ tim vẫn còn là một vấn đề khi các triệu chứng khởi đầu của bệnh rất mơ hồ, dễ  gây nhầm lẫn với các bệnh khác hoặc là bị bỏ qua, và cuối cùng hậu quả của bệnh rất nặng nề, thậm chí tử vong.


Vậy viêm cơ tim có nhiều không?
Thật ra tỉ lệ mắc bệnh viêm cơ tim không được biết rõ do một số trường hợp viêm cơ tim mức độ nhẹ tự khỏi nên người bệnh và gia đình không nhận biết.Một số trường hợp không có triệu chứng trước đó nhưng sau đó lại diễn tiến bệnh rất nhanh chóng.
Vậy làm thế nào để biết trẻ có bị viêm cơ tim hay không?
Phụ huynh có con nhỏ nên cần cảnh giác khi trẻ có các dấu hiệu sau đây:
  • Đối với trẻ lớn: có triệu chứng hô hấp trước đó (sốt, ho, sổ mũi, khò khè), hoặc triệu chứng về  tiêu hoá(ói, tiêu chảy),..
  • Đối với trẻ nhỏ: có khi chỉ đơn thuần là quấy khóc, bỏ bú hoặc bú kém ,..
Đặc biệt, nếu phụ huynh thấy trẻ có các biểu hiện như: tím, da tái, tay chân lạnh, thở mệt thì phải cho trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để được điều trị.
Vì vậy khi thấy trẻ có bất cứ biểu hiện khác so với bình thường, phụ huynh nên đưa trẻ đến cơ sở y tế để được các bác sĩ khám bệnh và theo dõi.
Tại sao trẻ lại bị viêm cơ tim?
Viêm cơ tim là dạng bệnh lý viêm thành cơ tim do siêu si gây ra, hàng đầu là Enteroviruses, kế đến là Echoviruses, Adenoviruses, Herpes simplex, quai bị, sởi, Rubella,….
Điều trị viêm cơ tim như thế nào?
Bởi vì viêm cơ tim do siêu vi gây ra nên chúng ta chỉ điều trị triệu chứng, điều trị hỗ trợ và theo dõi các biến chứng đề điều trị kịp thời.
Dự hậu của bệnh viêm cơ tim như thế nào?
Một số trường hợp bệnh nhân có viêm cơ tim thoáng qua, không để lại di chứng. Nhưng một số trường hợp bệnh nhân vào viện với bệnh cảnh rất nặng, tiên lượng tử vong rất cao và sẽ có thể có bệnh cơ tim dãn nở, suy tim  hoặc rối loạn nhịp về sau.Đây cũng chính là những biến chứng nặng nề cho trẻ vì nguy cơ điều trị thuốc lâu dài nhưng tiên lượng hồi phục không cao.
Vì vậy lời khuyên cho các phụ huynh là hãy theo dõi trẻ thật sát khi có những triệu chứng nêu trên để kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế để được nhân viên y tế khám bệnh và theo dõi.
Đối với những trẻ ở tuổi đi học: nên hướng dẫn và tập cho trẻ thói quen rữa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh hoặc tránh tiếp xúc với những người mắc bệnh về đường hô hấp hay tiêu hoá nhằm tránh bị lây nhiễm siêu vi, đặc biệt là những siêu vi gây bệnh viêm cơ tim.

Bệnh tim bẩm sinh là gì?    Là dị tật ở tim (có thể tại vách tim hay van tim) và các mạch máu lớn, được phát hiện ngay sau khi sinh ra. Theo ước tính cứ 100 trẻ sinh ra sẽ có một trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh. Dị tật ở tim của trẻ đã xảy ra trong thời kỳ bào thai, trước khi trẻ được sinh ra. Tim bẩm sinh là một trong những dị tật bẩm sinh thường hay xảy ra nhất ở trẻ em.



   Được biết tim của trẻ bắt đầu hình thành, phát triển và hoàn chỉnh vào khoảng tuần thứ tám của bào thai. Dị tật tim bẩm sinh thường xảy ra trong tám tuần lễ đầu tiên của quá trình phát triển bào thai quan trọng này. 
Nguyên nhân nào gây dị tật tim bẩm sinh?
   Đại đa số các tật tim bẩm sinh thường không tìm thấy nguyên nhân. Các bà mẹ có thể thắc mắc và tự hỏi không biết mình đã làm gì (uống thuốc, tiếp xúc hóa chất gì), hay mắc bệnh gì trong thời gian mang thai mà gây ra tật tim bẩm sinh cho con mình. Trong hầu hết các trường hợp thường không tìm thấy được nguyên nhân nào có mối liên hệ rõ ràng với các tật tim bẩm sinh. 
   Có một số tật tim bẩm sinh thường xảy ra hơn, mang tính gia đình, vì vậy có thể có mối liên quan về di truyền đối với một số tật tim bẩm sinh. Các nhà khoa học nhận thấy có một số tật tim bẩm sinh có thể di truyền và đi kèm với các hội chứng đa dị tật như trong hội chứng Ehrles-Danlos, Noonan, Leopard, Ellis-Van-Creveld, Hunter,..   
   Cũng có một số tật tim bẩm sinh xảy ra có liên quan đến rối loạn nhiễm sắc thể như trong hội chứng Down (có 3 nhiễm sắc thể 21), hội chứng Turner (XO, không có nhiễm sắc thể giới tính Y), hội chứng Klinefelter (XXY: có 2 nhiễm sắc thể X và 1 nhiễm sắc thể Y ); hay do đột biến gen.
   Một số tật tim bẩm sinh có thể sẽ xảy ra nếu người mẹ bị nhiễm siêu vi trong khi mang thai như nhiễm Rubella, Cytomegalo, Herpes, đặc biệt là trong 3 tháng đầu của thai kỳ hay dùng một số thuốc như thuốc chống động kinh, Thalidomide, nội tiết tố sinh dục,... 
Các loại dị tật tim bẩm sinh:
   Các dị tật tim bẩm sinh ở trẻ em có thể có từ dạng đơn giản đến dạng phức tạp. 
   Các dị tật tim bẩm sinh ở trẻ em có thể được phân thành nhiều loại và cũng có nhiều cách phân loại dị tật tim bẩm sinh. Ngày nay người ta thường phân loại các dị tật tim bẩm sinh dựa theo ảnh hưởng của nó đối với các luồng máu chảy trong cơ thể của trẻ. 
   Các tật tim bẩm sinh ở trẻ em bao gồm:
1         Nhóm tim bẩm sinh không có luồng thông: trong nhóm này thường trẻ không bị tím, lượng máu lên phổi bình thường hoặc giảm, bao gồm Hẹp động mạch phổi, Hẹp động mạch chủ, Hẹp eo động mạch chủ
2         Nhóm tim bẩm sinh có luồng thông từ trái sang phải: có lỗ thông đưa máu đi từ
các buồng tim bên trái sang tim bên phải. Trong nhóm tim bẩm sinh này, lưu lượng máu đi qua phổi sẽ gia tăng (tăng tuần hoàn phổi) và thường không gây ra triệu chứng tím (trừ khi luồng thông đã bị đảo chiều do áp lực mạch máu phổi gia tăng cao hơn áp lực mạch máu của hệ thống). Bao gồm các dị tật tim bẩm sinh sau:
Ø       Còn ống động mạch (PDA: có ống thông nối từ cung ĐM chủ qua ĐM phổi).
Ø       Thông liên nhĩ (có lỗ thông giữa 2 tâm nhĩ) 
Ø       Thông liên thất (VSD: có lỗ thông giữa 2 tâm thất) là dị tật tim bẩm sinh hay gặp nhất        
Ø       Kênh nhĩ thất …
3         Nhóm tim bẩm sinh có luồng thông từ phải sang trái: có lỗ thông đưa máu đi từ
các buồng tim bên phải sang tim bên trái, thường gây ra triệu chứng tím và lưu lượng máu đi qua phổi có thể tăng (tăng tuần hoàn phổi) hay giảm (giảm tuần hoàn phổi).
§   Luồng thông từ phải sang trái với lưu lượng máu đi qua phổi tăng, bao gồm những dị
tật tim bẩm sinh như:
Ø       Chuyển vị đại động mạch (bình thường động mạch chủ xuất phát từ thất trái, động mạch phổi xuất phát từ thất phải, nhưng trong dị tật này thì ngược lại)
Ø       Bất thường tĩnh mạch phổi về tim (bình thường 4 tĩnh mạch phổi phải đổ về tâm nhĩ trái, nhưng trong dị tật này thì tất cả 4 tĩnh mạch phổi không đổ về tâm nhĩ trái hoặc chỉ có 2 tĩnh mạch phổi đổ về tâm nhĩ trái)
Ø       Tim một thất (tim chỉ có 1 buồng tâm thất)
Ø       Thiểu sản thất trái (tâm thất trái bị teo nhỏ)
Ø       Thân chung động mạch (cả 2 động mạch chủ và động mạch phổi cùng xuất phát từ một thân động mạch chung)
       §   Luồng thông từ phải sang trái với lưu lượng máu đi qua phổi giảm: bao gồm những
dị tật tim bẩm sinh có kèm theo hẹp động mạch phổi làm cho lưu lượng máu đi qua phổi giảm,bao gồm như:
Ø       Tứ chứng Fallot (bao gồm 4 dị tật là hẹp phổi, thông liên thất, động mạch chủ  
lệch phải cưỡi ngựa trên vách liên thất, phì đại thất phải) là dị tật tim bẩm sinh gây tím thường gặp nhất.
Ø       Teo van ba lá.
Ø       Teo van động mạch phổi...

Tứ chứng Fallot là bệnh tim bẩm sinh(TBS) có tím thường gặp nhất, chiếm 75% các trường hợp TBS tím ở trẻ trên 1 tuổi, gồm 4 tật trong tim( tứ chứng) là : thông liên thất, hẹp động mạch phổi, động mạch chủ cưỡi ngựa trên vách liên thất, dày thất phải. Các tật này làm giảm máu lên phổi và đưa máu thiếu oxy đi nuôi cơ thể nên trẻ có tình trang thiếu oxy lâu ngày, dễ bị mệt và bị tím da niêm. Một số trẻ bệnh nhẹ có thể không thấy triệu chứng tím.





Các biểu hiện của bệnh :

-          Tím da, niêm, môi, đầu ngón tay, ngón chân, đồng đều phần trên và dưới cơ thể.
-          Ở trẻ lớn, khi mệt, trẻ thường ngồi xổm để khỏe hơn.
-          Trẻ bị bệnh lâu ngày, các đầu ngón tay, ngón chân to bè ra như “dùi trống”.
-          Khi trẻ gắng sức hoặc gặp nhiều các yếu tố kích thích như : viêm phổi, tiêu chảy, ói mửa, mất nước….sẽ trở nên mệt, khó thở, tím nhiều hơn.
-          Nặng nề hơn là trẻ lên cơn tím thiếu oxy, biểu hiện bằng trẻ thở mạnh, thở nhanh, bứt rứt, kích động, có thể dẫn đến hôn mê. Cơn tím cần được nhanh chóng chẩn đoán và cấp cứu. Ba triệu chứng gợi ý chính là : thở mạnh, tím nhiều hơn và đường thở bình thường ( loại trừ trường hợp dị vật đường thở)
-          Ngoài ra, trẻ bị tứ chứng Fallot còn có thể gặp các biến chứng như : viêm tắc mạch máu não, áp xe não, thiếu máu kéo dài,, chậm phát triển thể chất, dễ xuất huyết răng lợi, da, tiêu hóa, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng…..

Chăm sóc trẻ bị tứ chứng Fallot :

Nếu phát hiện trẻ tím da niêm, hoặc có những dấu hiệu nghi ngờ bị TBS như : hay viêm đường hô hấp, kém ăn , chậm lớn…cần đưa trẻ đến bệnh viện chuyên khoa tim mạch để kiểm tra, xác định chẩn đoán bệnh và có hướng điều trị phù hợp.

Cha mẹ có con bị tứ chứng Fallot cần lưu ý :

-          Đưa trẻ đến bệnh viện ngay nếu trẻ khó thở, mệt, yếu, bứt rứt, tím da niêm tăng….
-          Nếu trẻ lên cơn tím, lập tức vỗ về, trấn an trẻ, nới rộng quần áo và đặt trẻ nằm theo “tư thế gối ngực” : nằm quay sang một bên với hai đầu gối co lên ngực. Tư thế này giúp tăng lượng máu lên phổi, trẻ sẻ bớt tím và đỡ mệt. Sau đó, lập tức đưa trẻ đến bệnh viện để điều trị kịp thời.
-          Cần cho trẻ uống nhiều nước, ăn đủ dinh dưỡng, ăn những thức ăn giàu chất sắt ( thịt động vật có màu đỏ như heo, bò, rau cải, ngũ cốc, hạt mè, hạt hướng dương, các loại đậu…)
-           Với trẻ nhỏ cần đút trẻ ăn chậm và chia thành nhiều bữa ăn nhỏ trong ngày, cần giữ vệ sinh và giữ ấm cho trẻ, tránh để trẻ quấy khóc, tránh để trẻ bị cảm sốt hay tiêu chảy…
-          Với trẻ lớn, trẻ cần uống kháng sinh khi làm thủ thuật hoăc điều trị răng để phòng ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, cần giữ vệ sinh răng miệng tốt để tránh bị nhiễm trùng.
-          Tránh cho trẻ vận động mạnh hay đùa giỡn quá nhiều. Tránh để trẻ gắng sức và làm những công việc nặng nhọc .
-          Tái khám đúng theo lịch hẹn của bác sĩ tim mạch để được theo dõi và điều trị kịp thời.

Phương pháp điều trị tứ chứng Fallot :

-          Điều trị nội khoa : chỉ là tạm thời trong lúc chờ lựa chọn thời điểm thích hợp để phẫu thuật.
-          Điều trị ngoại khoa : Gồm phẫu thuật tạm thời và phẫu thuật triệt để

o        Thời điểm và phương pháp phẫu thuật sẽ được bác sĩ phẫu thuật quyết định qua việc đánh giá sức khỏe, cân nặng của trẻ, mức độ nặng của bệnh, mức độ nặng các triệu chứng.
o        Hiện nay, phẫu thuật tạm thời được sử dụng là phẫu thuật Blalock cải tiến, dùng ống ghép nhân tạo nối động mạch dưới đòn ( trái hoặc phải) với động mạch phổi cùng bên để giải quyết tạm thời tình trạng thiếu oxy nặng. Sau đó, trẻ được theo dõi để chọn thời điểm phù hợp phẫu thuật sửa chữa triệt để.
o        Phẫu thuật triệt để : các tật của tứ chứng Fallot đều được sửa chữa, đạt kết quả tốt với tỉ lệ tử vong dưới 5%. Phẫu thuật được thực hiện tốt nhất từ 2- 3 tuổi. Nếu không được phẫu thuật, chỉ 10% trẻ sống đến 20 tuổi, dưới 3% trẻ sống đến 40 tuổi.
      

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Cao huyết áp ở trẻ em ít được chú ý do quan niệm rằng trẻ em không thể mắc bệnh cao huyết áp. Vì thế khi trẻ em  có những triệu chứng như: nhức đầu, ói, ù tai, hay chảy máu mũi, co giật thì thầy thuốc thường hay nghĩ đến một bệnh khác.



Nguyên nhân:
-          Béo phì và thừa cân  làm tăng khả năng cao huyết áp gấp 3 lần, tình trạng béo phì và thừa cân ngày càng gia tăng và kéo theo đó là nguy cơ gia tăng bệnh tim mạch và tiểu đường.

-          Mắc các bệnh về thận.
-          Bệnh hẹp động mạch thận.                               
-          Bệnh về ĐMC như: Takayashu( hẹp nhiều đoạn của ĐMC).

-          Xem tivi hay chơi game vi tính quá lâu sẽ có nguy cơ cao huyết áp.

Phòng bệnh:

-          Chú ý lượng muối ăn trong chế độ ăn hàng ngày cho trẻ em từ 4- 8 tuổi là 1,2 g/ngày, trẻ lớn hơn là 1,5 g/ngày. Tránh ăn các loại thực phẩm làm sẳn không ghi rõ lượng muối (sodium, potassium) trên nhãn
-          Tăng hoạt động thể lực, tập đi bộ đều đặn 30- 60 phút/ ngày sẽ làm giảm nguy cơ cao huyết áp và bệnh lý tim mạch
-          Khuyến khích trẻ bớt ăn ngọt, ăn mặn, tinh bột, chất béo, tăng ăn rau và thực phẩm có nhiều chất xơ.
-          Giới hạn thời gian xem tivi hoặc chơi game của trẻ dưới 2 giờ/ ngày.

CPR (Cardiopulmonary resuscitation: phương pháp hồi sức tim phổi) là một quy trình cấp cứu được thực hiện ở trẻ bị ngưng tim, ngưng thở do ngạt nước, chết đuối, tắc ngẽn khí quản hoặc chấn thương. CPR là sự kết hợp của:



  • Thông khí/ hà hơi thổi ngạt, nhanh chóng cung cấp oxy đến phổi của bé
  • Bóp tim ngoài lồng ngực, giúp hồi phục tuần hoàn máu ở trẻ
Nếu quá trình tuần hoàn máu ngưng lại có thể làm tổn thương não và gây tử vong chỉ trong vòng vài phút, chính vì thế bạn nên không nên dừng lại cho trừ khi trẻ có dấu hiệu hồi phục tim, trẻ có thể tự thở hoặc khi cớ sự trợ giúp của nhân viên y tế
 
Lưu ý:
CPR giúp duy trì sự sống, nhưng bạn cần được tham gia một khóa huấn luyện chuyên biệt để có thể thực hiện phương pháp này. Tài liệu hướng dẫn này chỉ nhằm giới thiệu những khái niệm cơ bản nhất về CPR chứ không thể thay thế một khóa huấn luyện kết hợp với thực hành dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia
Tất cả quý vị phụ huynh và những ai trực tiếp chăm sóc trẻ nên tìm hiểu phương pháp hồi sức tim phổi dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Đây là những kiến thức quý báu không thể thiếu dành cho những bậc làm cha mẹ
Thời gian là yếu tố rất quan trọng khi xử lý cấp cứu trẻ bị ngưng tim ngưng thở. Thông thường, tổn thương não sẽ xuất hiện sau 4 phút và dẫn đến tử vong từ 4 đến 6 phút sau đó
 
Nguyên nhân:
Các nguyên nhân chính gây ngưng tim ngưng thở ở trẻ em bao gồm:
  • tắc ngẽn khí quản
  • ngạt nước (chết đuối)
  • sốc điện
  • chảy máu ồ ạt
  • chấn thương vùng đầu hoặc chấn thương nặng
  • Bệnh lý phổi
  • Ngộ độc
  • Ngạt thở
Triệu chứng:
  • không thở
  • sờ không thấy mạch
  • bất tỉnh
 
Những thao tác sơ cấp cứu dựa trên hướng dẫn của Hiệp hội Tim Mạch Hoa Kỳ:
  1. Kiểm tra khả năng phản ứng của trẻ, lắc hoặc vỗ nhẹ và quan sát xem bé có thể cử động hay phát ra âm thanh hay không (rên rỉ, khóc..). hãy hỏi to rằng: “ Con có ổn không?” hoặc “ Nói cho mẹ (ba, chú, cô…) biết con thấy thế nào?”
  2. Nếu trẻ không có phản ứng, hãy la to để xin trợ giúp. Hãy nhờ ai đó gọi ngay cấp cứu. Không để trẻ một mình để đi gọi cấp cứu. Trong trường hợp không có ai xung quanh, bạn hãy hiện phươgn pháp hồi sức CPR cho trẻ trong khoảng 2 phút rồi mới gọi cấp cứu
  3. Cẩn thận khi đặt trẻ nằm ngửa. Nếu trẻ có nguy cơ bị chấn thương cột sống, phải có 2 người di chuyển nhắm tránh phần đầu và cổ của bé bị lúc lắc
  4. Mở lối thông khí. Đẩy đầu trẻ hơi ngửa ra phía sau bằng cách dùng một tay nhẹ nhàng nâng cằm bé, tay kia ấn nhẹ vào phần trán
  5. Quan sát, lắng nghe và cảm giác hơi thở của trẻ.Hãy ghé sát tai bạn vào gần miệng và mũi của trẻ, chú ý nhìn xem những cử động của lồng ngực. Dùng má để kiểm tra làn hơi của bé
  6. Nếu đứa trẻ không tự thở được:
-          Nhẹ nhàng áp miệng bạn trùm lên cả miệng và mũi của trẻ
-          Cách làm khác là chỉ dùng miệng của bạn trùm phần mũi của bé, tay bạn giữ phần miệng bé đóng chặt lại
-          Nâng cằm lên, cho đầu hơi ngả về phía sau. Thổi ngạt 2 hơi, mỗi hơi nên kéo dài trong vòng một giây và phải đảm bảo làm cho lồng ngực trẻ phồng lên
  1. thực hiện bóp tim ngoài lồng ngực
-          Đặt 2 ngón tay của một bàn tay ở giữa ngựa nằm về phía dưới đường ngang nối 2 núm vú một tí. Tránh ấn nhầm do đặt tay quá sâu về phía dưới của ngực
-          Bạn hãy đặt tay còn lại lên trán trẻ, vẫn giữ đầu trẻ hơi nghiêng về phía sau
-          Ấn xuống và tạo một áp lực ép sâu khoảng từ 1/3 -1/2 ngực trẻ
-          Ấn khoảng 30 lần. Sau mỗi lần ấn, hãy để cho ngực trẻ trả lại trạng thái bình thường trước khi thực hiện lần ấn tiếp theo. Hãy ấn “nhanh” và “mạnh”, tránh gián đoạn. Đếm nhanh mỗi khi bạn ấn xuống ; “1,2,3….29,30, hết”
  1. Hà hơi thổi ngạt cho bé 2 lần nữa và nên làm cho lồng ngực phồng lên
  2. Tiếp tục thực hiện CPR . Bóp tim ngoài lồng ngực ( ấn 30 lần) và hà hơi thổi ngạt (2 hơi) sau đó lặp lại trong vòng 2 phút
  3. Sau 2 phút, nếu đứa trẻ vẫn chưa thể tự thở bình thường được, không ho, không có bất kỳ một cử động nào. Hãy để trẻ nằm yên rồi chạy đi gọi cấp cứu (trong trường hợp chỉ có một mình bạn tại hiện trường)
  4. Tiếp tục lặp lại quy trình hà hơi thổi ngạt và bóp tim ngoài lồng ngực cho đến khi có dấu hiệu sống hoặc có sự trợ giúp của nhân viên y tế
Nếu đứa trẻ bắt đầu tự thở trở lại, hãy đặt trẻ nằm ở tư thế hồi sức và nhớ thường xuyên quan sát kiểm tra hơi thở của trẻ cho đến khi bàn giao cho nhân viên y tế
 
Những điều KHÔNG nên làm:
  • Kiểm tra đường thở, nâng cằm trẻ, đặt đầu hơi nghiêng, kiểm tra để chắc chắn rằng lưỡi của trẻ không chèn khí quản, Nếu nghi ngờ có chấn thương cột sống, kéo nhẹ hàm về phía trước nhưng tuyệt đối không di chuyển đầu hoặc cổ. Giữ cho miệng bé không ngậm lại
  • Nếu trẻ có dấu hiệu tự thở bình thường, có thể ho được hoặc cử động được. Không thực hiện phương pháp bóp tim ngoài lồng ngực vì nó có thể làm cho tim trẻ ngưng đập
  • Không kiểm tra mạch trừ khi bạn là nhân viên y tế
Gọi cấp cứu:
  • Nếu xung quanh bạn có người, hay nhờ một người đi gọi cấp cứu, bạn hoặc người nào đó sẽ thực hiện CPR
  • Nếu chỉ có một mình bạn với đứa bé, hãy la thật lớn để cầu cứu và bắt đầu thực hiện CPR. Sau 2 phút thực hiện phương pháp CPR, nếu chưa có ai đến trợ giúp, hãy gọi xe cấp cứu. Bạn có thể cõng đứa trẻ cùng đi đến buồng điện thoại gần nhất (trừ trường hợp nghi ngờ trẻ bị chấn thương cột sống)  
Phòng ngừa:
 
Không giống ở người lớn, CPR thường được chỉ định trong cấp cứu nhồi máu cơ tim, hầu hết các trường hợp cần đến CPR ở trẻ nhỏ xuất phát từ 1 tai nạn có thể phòng ngừa trước
 
Đừng bao giờ đánh giá thấp những điều một đứa bé có thể làm được. Trẻ con luôn linh động và hiếu kỳ hơn so với bạn nghĩ, không nên suy nghĩ rằng “nó bé thế, không thể làm được được chạm được cái này, không thể bò xa được…. Đừng bao giờ đặt trẻ ở một mình trên giường, trên bàn hoặc những mặt phẳng khác khiến trẻ có thể bị lăn hoặc lộn nhào dẫn đến chấn thương. Hãy luôn nhớ sử dụng dây thắt an toàn khi đặt trẻ ngồi trên ghế cao, trên xe máy hoặc xe đẩy. Không để trẻ một mình trên võng hoặc những chiếc nôi lưới hình chữ A ( nôi có thể đung đưa như cái võng).
 
Bắt đầu dạy con bạn nghĩa của câu lệnh “ ĐỪNG CHẠM VÀO CÁI NÀY”. Bài học sớm nhất về sự an toàn là làm quen với từ “ KHÔNG”
 
Chọn đồ chơi phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Đừng trao cho trẻ những loại đồ chơi quá nặng hoặc dễ vỡ. Nhớ đừng quên kiểm tra những đồ chơi nhỏ, đồ chơi có những phần bị mất, đồ chơi có những cạnh sắc nhọn, tìm cho ra những cục pin trong đồ chơi bị thất lạc và bất kỳ đồ chơi nào bạn nghi ngờ có thể chứa đựng mối nguy hiểm cho trẻ
 
Thiết lập một môi trường an toàn và giám sát trẻ một cách kỹ lưỡng, đặc biệt những khu vực xung quanh vùng có nước ( sông, ao, hồ, vũng ….thau chậu, luy nước trong nhà) và những không gian có nhiều vật dụng trong nhà. Giữ những chất hoá học độc hại, những chất tẩy rửa trong tủ có khóa và đặt ở những nơi an toàn, tránh xa tầm tay trẻ. Bạn cần chú ý đến những mối nguy hiểm trong nhà như: ổ điện, bề mặt bếp, lò, tủ thuốc y tế ….chúng luôn thu hút sự quan tâm của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ một cách đặc biệt
 
Để giảm thiểu tỉ lệ tai nạn gây ngạt cho trẻ, hãy chắc chắn rằng những vật như nút áo, hạt bắp rang, pin đồng hồ, tiền xu, trái nho, hạt đậu …nằm xa tầm với của con trẻ. Hãy ngồi cùng con bạn trong các bữa ăn, phòng khi trẻ bị sặc. Đặt trẻ ở tư thế ngồi thẳng, không để trẻ bò vòng quanh, hay uống nước trực tiếp từ chai trong lúc đang ăn
 
Không bao giờ cột, đeo núm vú giả, đồ trang sức, xâu chuỗi , vòng ...hoặc bất kỳ thứ gì khác quanh cổ hoặc cổ tay của trẻ con 

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

Được biết đến như một tên “sát nhân thầm lặng”, viêm gan C đã âm thầm hủy hoại tế bào gan, tiến triển sang xơ gan, ung thư gan và mỗi năm đã gây ra cái chết cho hàng trăm triệu người trên thế giới. Một tỷ lệ không nhỏ người mắc phải virus viêm gan C không được phát hiện vì bệnh viêm gan C mạn tính diễn biến thầm lặng, bệnh nhân gần như không có triệu chứng trong giai đoạn đầu nhiễm bệnh, đến khi phát hiện mình bị viêm gan C thì thường đã quá muộn.

Viêm gan C nguy hiểm như thế nào?
Sở dĩ viêm gan C được biết đến như một tên “sát nhân thầm lặng” vì nhiều người bị nhiễm không cảm thấy mình bị bệnh và cũng không biết mình đã bị nhiễm virus. Một số người chỉ có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, vàng mắt, vàng da, nước tiểu sậm màu… và một số triệu chứng như: đau cơ, đau khớp, viêm khớp, đổ mồ hôi đêm, ngứa da, mắt khô, loét miệng, hạch lớn… vì thế người bệnh thường không để ý. Chỉ đến khi đi các triệu chứng rõ rệt bệnh nhân mới đi khám thì lúc đó bệnh đã nặng, đã chuyển sang giai đoạn mạn tính, thậm chí nặng hơn là xơ gan và ung thư gan.

Tổn thương gan do virus viêm gan C
Những người bị viêm gan virus C có tốc độ suy giảm chức năng gan rất khác nhau, ngay cả bác sĩ cũng khó có thể chẩn đoán chính xác. Hiện nay, các chuyên gia ghi nhận một số yếu tố có thể làm bệnh tiến triển nhanh hơn như: nhiễm virus ở người lớn tuổi, bệnh nhân uống rượu, nhiễm đồng thời với virus viêm gan B, nhiễm đồng thời với virus HIV, nhiễm bệnh ở những người tiểu đường, béo phì, gan thoái hóa mỡ, hút thuốc…
Hậu quả chính của viêm gan mạn tính do virus viêm gan C là tiến triển tới xơ gan và những biến chứng: xuất huyết tiêu hóa, suy gan và ung thư gan nguyên phát. Nhiều trường hợp bệnh chỉ được phát hiện ở giai đoạn cuối là xơ gan. Khi đã bị xơ, gan khó hồi phục lại, cho dù tình trạng viêm có thuyên giảm. Vì vậy, nên xét nghiệm virus viêm gan C khi đi khám sức khỏe. Vì những hậu quả nặng nề của bệnh ở giai đoạn trễ, nên cố gắng chẩn đoán và điều trị trước khi bị xơ gan là điều quan trọng nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm tiến triển sang giai đoạn xơ gan.
Phòng bệnh viêm gan C như thế nào?
Theo các bác sĩ của Phòng khám chuyên Gan 12 Kim Mã, viêm gan C là một căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đe dọa sức khỏe con người, cho đến nay vẫn chưa có vacxin phòng ngừa, vì thế chúng ta phải hiểu rõ sự nguy hiểm của nó để có những biện pháp phòng tránh tốt nhất.
Trường hợp xét nghiệm xác định mình đã bị nhiễm virus viêm gan C, bệnh nhân không nên quá bi quan mà hãy đến các cơ sở chuyên gan để kiểm tra cụ thể nhằm xác định chính xác tình trạng gan của mình thế nào để có phác đồ điều trị thích hợp.
- Bệnh nhân nên uống thuốc theo sự chỉ dẫn của bác sĩ để giảm triệu chứng. Trong thời gian virus viêm gan C đang hoạt động, bạn cần tránh một vài loại thuốc vì nó có thể gây độc cho gan. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ để sử dụng chúng một cách an toàn.
- Làm theo lời khuyên của bác sĩ về thời gian nghỉ ngơi cần thiết, tránh hoạt động thể lực quá sức.
- Ăn uống hợp lý, tăng cường thức ăn giàu chất đạm và năng lượng.
- Không uống rượu, bia và các chất có cồn.
Hiện nay, cùng với tiến bộ của y học, việc tầm soát và điều trị bệnh viêm gan C cũng có nhiều bước phát triển. Viêm gan C đã có thể kiểm soát được nếu như người bệnh phát hiện kịp thời và có phác đồ điều trị đúng. Hiện nay, phương pháp Ozone và phương pháp tế bào gốc là hai phương pháp tiên tiến nhất trong điều trị bệnh gan và tại Phòng khám chuyên Gan 12 Kim Mã, hai phương pháp này được các chuyên gia trong ngành đánh giá rất cao, là một trong số những phương pháp điều trị viêm gan siêu vi hiệu quả nhất tại Việt Nam hiện nay.
Phòng khám chuyên Gan 12 Kim Mã là phòng khám hàng đầu trong điều trị bệnh gan đã được Sở Y tế Hà Nội cấp phép hoạt động. Được trang bị máy móc và các thiết bị y tế hàng đầu thế giới, cùng với đội ngũ bác sĩ và chuyên gia hàng đầu trong điều trị bệnh gan, đặc biệt là viêm gan B và C, phòng khám chuyên Gan 12 Kim Mã luôn là địa chỉ tin cậy của bệnh nhân.
Nếu bạn hay người thân bị nhiễm virus viêm gan C cần theo dõi và điều trị hãy gọi đến đường dây nóng 04.3718.1999 của phòng khám đa khoa 12 Kim Mã để được bác sĩ chia sẻ thông tin và tư vấn trực tiếp.

Viêm gan siêu vi C là căn bệnh nguy hiểm do virus HCV gây nên. Mặc dù các tiến bộ y học hiện nay đã có sự phát triển vượt bậc nhưng việc chẩn đoán và điều trị bệnh viêm gan siêu vi C vẫn còn rất khó khăn và tốn kém. Tuy nhiên theo các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã, đối với căn bệnh viêm gan siêu vi C, càng phát hiện bệnh sớm bao nhiêu thì cơ hội chữa trị khỏi bệnh càng lớn bấy nhiêu.

Các phương pháp chẩn đoán viêm gan siêu vi C
1. Các thử nghiệm kháng thể HCV
- ELISA II là một cuộc thử nghiệm máu đơn giản để phát hiện kháng thể HCV.
- RIBA là cuộc thử nghiệm kháng thể thứ nhì, có thể được dùng sau cuộc thử nghiệm Elisa, để xác nhận sự hiện diện của kháng thể HCV.
2. Thử nghiệm số lượng siêu vi
Đây là phương pháp đo số lượng HCV lưu truyền trong máu. Có 3 loại thử nghiệm số lượng siêu vi là: HCV RNA PCR assay, RNA branched-chain DNA (bDNA), hoặc TMA assay (Transcription Mediated Amplification). Các thử nghiệm về số lượng siêu vi được dùng để xác định chính xác lượng virus có trong cơ thể người bệnh, từ đó chọn cách điều trị thích hợp.

Chẩn đoán viêm gan siêu vi C
3. Thử nghiệm phân định loại HCV (Genotype)
Xét nghiệm phân định loại HCV được dùng để xác định bạn bị nhiễm loại HCV nào. Ðiều này rất hữu ích cho việc quyết định cách chữa trị như việc sử dụng loại thuốc nào, dùng trong bao lâu là phù hợp…
4. Thử nghiệm chức năng và sinh hóa của gan
Đây là xét nghiệm để đo lường sức hoạt động của gan. Bảng thử nghiệm gan gồm các số đo lường chức năng của gan. Số đo lường phổ thông nhất là ALT và AST mà trước đây gọi là SGPT và SGOT. ALT và AST là những chất men (enzymes) được tiết vào trong máu khi gan bị hư và thường tăng cao ở người bị nhiễm HCV. Nhiều người có HCV có chỉ số cao của hai loại men gan này, thường là dấu hiệu đầu tiên là họ đã bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, bác sĩ của bạn có thể đo thời gian đông máu bằng phương pháp đo thời lượng “prothrombin” và mức độ mật vàng (bilirubin). Bilirubin là một sắc tố thường thấy trong máu của người có viêm gan; chất bilirubin cao sẽ gây ra chứng vàng da. Việc dùng thuốc men và rượu cũng có thể làm sai lệch kết quả thử nghiệm máu. Trước khi đi đến kết luận, hãy tham khảo với bác sĩ của bạn.
5. Sinh thiết gan
Sinh thiết (hay thử mẫu tế bào) gan được dùng để đo lường mức độ viêm, số lượng sẹo, và tình trạng sức khỏe của gan. Việc này cũng có thể dùng để xác định cách chữa trị ở bệnh nhân viêm gan C.
Hiện nay việc chẩn đoán và điều trị viêm gan C còn nhiều khó khăn nên người bệnh nên đến các bệnh viện lớn, hoặc các phòng khám chuyên khoa gan có uy tín với công nghệ hiện đại để tiến hành kiểm tra và làm các xét nghiệm chuyên sâu. Khi đã có kết quả xét nghiệm chính xác, người bệnh cần phải tuyệt đối tuân thủ liệu pháp điều trị của bác sĩ để bệnh tình nhanh chóng thuyên giảm nhất, tránh việc tự ý dùng thuốc mà có thể làm bệnh tình thêm nặng và có biến chứng xấu xảy ra. Đó là những lời khuyên của các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã.
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -