Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Hiện nay, chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu đối với viêm gan A. Thay vào đó, mục tiêu chủ yếu là đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng và tránh tổn thương gan vĩnh viễn.


Ăn hải sản sống dễ có nguy cơ nhiễm virut viêm gan A
 
 Nếu buồn nôn, bạn nên ăn làm nhiều bữa nhỏ trong ngày thay vì ăn ba bữa lớn. Nên ăn thức ăn mềm, dễ tiêu hóa như súp hoặc cháo, sữa chua và bánh mì nướng. Bạn cũng  có thể thấy dễ ăn vào buổi sáng hơn là buổi chiều.
Ngay sau khi bạn được chẩn đoán viêm gan A, hãy báo cho bác sĩ biết về các thuốc mà bạn đang dùng, kể cả những thuốc không kê đơn. Bác sĩ sẽ khuyên bạn nên ngừng hay thay đổi một số thuốc. Cũng nên tránh uống rượu trong giai đoạn cấp của bệnh.
Ngay cả sau khi bạn đã hồi phục, cũng không nên dùng phối hợp rượu với acetaminophen (Tylenol, các thuốc khác) vì có thể gây tổn thương gan kể cả ở người không bị viêm gan.

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Nhiều phụ huynh đưa bé đi tiêm chủng thường thắc mắc “Bác sĩ ơi bệnh viêm gan siêu vi A có nguy hiểm không ? Bệnh có những triệu chứng gì ? Có cần phải chích ngừa không? Chích ngừa có thể có những tác dụng phụ gì ?” BS Hoàng Lê Phúc, Trưởng khoa tiêu hóa BV Nhi Đồng 1 sẽ có những trao đổi về thắc mắc của phụ huynh xung quanh vấn đề này.

Bệnh viêm gan siêu vi A là một bệnh nhiễm trùng nguy hiểm ở gan do virus viêm gan A gây ra. Bệnh có thể diễn tiến từ nhẹ đến nặng, từ vài tuần đến vài tháng. Khác với bệnh viêm gan siêu B và C lây truyền qua đường máu, quan hệ tình dục không an toàn và mẹ truyền sang con, bệnh viêm gan siêu vi A lây truyền từ người này sang người khác do ăn uống thức ăn, nguồn nước, tiếp xúc với các đồ vật có nhiễm phân của người bệnh dù là với lượng rất nhỏ.
Người bệnh viêm gan A nhập viện điều trị chiếm khoảng 20%, nghĩa là cứ độ 5 người bệnh thì có 1 người nhập viện. Số tử vong do bệnh viêm gan siêu vi A chiếm từ 3 đến 5 người trong 1000 ca bệnh. Người bệnh viêm gan A có thể truyền bệnh dễ dàng cho những người trong gia đình. Bệnh có thể ngừa được bằng cách tiêm vắc xin phòng bệnh viêm gan siêu vi A.

Những triệu chứng mắc bệnh
Triệu chứng bệnh thường xuất hiện trung bình 4 tuần (15-50 ngày) sau khi nhiễm virus và thường kéo dài dưới 2 tháng, một số trường hợp có thể kéo dài đến 6 tháng. Tuy nhiên cũng có một số người bị bệnh mà không có triệu chứng gì. Người bệnh viêm gan A có thể có những triệu chứng sau:
-Sốt
-Mệt mỏi
-Mất cảm giác ngon miệng
-Buồn nôn và nôn
-Nước tiểu sậm màu
-Vàng da, vàng mắt
-Đau bụng vùng hạ sườn bên phải, nhất là khi ấn vào
-Phân bạc màu và lỏng hơn bình thường.
Ở trẻ em dưới 6 tuổi thường nhiễm siêu vi A viêm gan A sẽ không có triệu chứng (70%), nếu có thì thường sẽ không có vàng da. 70% trẻ lớn hơn vàngười lớn sẽ có vàng da. Để xác định người bệnh có mắc bệnh viêm gan siêu vi A hay không, bác sĩ sẽ hỏi các triệu chứng bệnh, khám da và mắt để tìm dấu hiệu viêm gan, khám bụng để xác định gan có to hơn bình thường hay không. Sau đó bác sĩ sẽ cho làm xét nghiệm máu để xem hoạt động của gan có biểu hiện bất thường hay không và xác định loại virus nào gây viêm gan.
xet-nghiem-mau
Những đối tượng nên tiêm ngừa bệnh này là:
-Tất cả trẻ em trên 1 tuổi
-Người có bệnh gan mạn tính
-Bệnh nhân được điều trị với yếu tố đông máu
- Người làm việc liên quan đến vắc xin viêm gan A trong các phòng thí nghiệm
- Trẻ em, trẻ vị thành niên sống trong vùng có dịch viêm gan A
Để phòng ngừa bệnh cần tiêm 2 liều vắc xin, cách nhau ít nhất 6 tháng và có thể tiêm cùng lúc với các vắc xin khác.
- Đối với trẻ em, liều đầu tiên tiêm lúc 12-23 tháng tuổi. Trẻ chưa được tiêm lúc dưới 2 tuổi có thể tiêm sau đó.
- Đối với những người khác, có thể tiêm bất cứ khi nào nếu có nguy cơ nhiễm viêm gan A.
Còn những đối tượng nào không nên tiêm ngừa vắc xin viêm gan siêu vi A hoặc hoãn tiêm thưa bác sĩ ?
Những người không nên tiêm ngừa vắc xin viêm gan siêu vi A :
- Người có phản ứng dị ứng nặng với mũi tiêm vắc xin viêm gan siêu vi A lần đầu
- Người có phản ứng dị ứng nặng với bất kỳ thành phần nào của vắc xin. Tất cả vắc xin viêm gan A có chứa nhôm và một vài loại thì có chứa 2-phenoxylethanol. Do vậy, hãy báo cho bác sĩ biết đã từng bị dị ứng nặng với những chất nào.
- Người đang bệnh ở mức độ trung bình hoặc nặng nên hoãn tiêm. Nếu bệnh ở mức độ nhẹ thì có thể tiêm được.
- Nếu đang mang thai hãy thông báo cho bác sĩ biết. Mặc dù chưa xác định được tính an toàn của vắc xin viêm gan A trên phụ nữ có thai nhưng cũng chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy vắc xin gây hại cho thai nhi và phụ nữ mang thai.
Vắc xin ngừa viêm gan A có thể gây ra những phản ứng sau tiêm. Thường là những phản ứng nhẹ, những phản ứng nặng rất hiếm khi xảy ra.
Phản ứng nhẹ thường kéo dài từ 1-2 ngày với những triệu chứng sau:
- Đau ở chỗ tiêm, chiếm tỉ lệ ½ ở người lớn và 1/6 ở trẻ em
- Nhức đầu, chiếm tỉ lệ 1/6 ở người lớn và 1/25 ở trẻ em
- Chán ăn, chiếm tỉ lệ khoảng 1/12 ở trẻ em
- Mệt mỏi, chiếm tỉ lệ 1/14 ở người lớn
Phản ứng nặng rất hiếm có trường hợp bị phản ứng dị ứng nặng sau tiêm, thường xảy ra trong vòng một vài phút hoặc một vài giờ sau tiêm.
Phụ huynh và gia đình nên theo dõi các phản ứng sau tiêm. Khi thấy có những dấu hiệu bất thường sau đây thì nên nhanh chóng đưa bé đến cơ sở y tế gần nhất:
 - Sốt cao
- Có thay đổi về hành vi
- Phản ứng dị ứng nặng gồm khó thở, khàn giọng, khò khè, nổi mề đay, da tái xanh, mệt, chóng mặt, mạch nhanh.

Mỗi năm có tới 23.000 người Mỹ bị viêm gan A – một bệnh nhiễm trùng gan do virus viêm gan A (HAV) gây ra. Giống như các virus gây viêm gan khác HAV làm gan bị viêm, ảnh hưởng tới chức năng gan.

Điều này rất có ý nghĩa vì gan thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng – khử độc, hỗ trợ tiêu hóa và sản sinh ra nhiều chất dinh dưỡng tối quan trọng.
Hầu hết mọi người nhiễm HAV từ thực phẩm và nước nhiễm bẩn hoặc tiếp xúc gần với người nhiễm HAV
  Gan nằm ở vùng bụng bên phải, ngay dưới xương sườn. gan thực hiện hơn 500 chức năng sống. Bao gồm xử lý hầu hết các chất dinh dưỡng từ ruột, đào thải thuốc, rượu và các chất có hại khác ra khỏi máu và tạo mật – dịch màu xanh lục chứa trong túi mật để giúp tiêu hóa mỡ. Gan cũng sản sinh cholesterol, các yếu tố đông máu và một số protein khác.
Vì tính chất phức tạp và sự tiếp xúc của gan với rất nhiều chất độc, nên gan rất dễ bị bệnh. Nhưng gan có khả năng tái sinh đáng kinh ngạc – nó có thể tự lành bệnh bằng cách thay thế hoặc sửa chữa các tế bào tổn thương. Nó cũng có thể tạo ra tế bào mới đảm nhiệm chức năng của các tế bào tổn hại vĩnh viễn hoặc cho đến khi tổn thương được khắc phục, gan vẫn dễ bị một số bệnh, bao gồm viêm gan virus.

HAV thường lây truyền theo đường “phân-miệng”. Điều này có nghĩa là một người nhiễm virus đã bốc thức ăn cho bạn mà không rửa tay sau khi đi vệ sinh. Bạn cũng có thể nhiễm virus do uống nước nhiễm bẩn, ăn sống các loại động vật có vỏ (sò, cua, tôm…) từ nguồn nước bị nhiễm nước thải, hoặc tiếp xúc gần với người bị nhiễm bệnh – cho dù người đó không có triệu chứng. Trên thực tế, bệnh lây lan mạnh nhất trước khi các triệu chứng xuất hiện.
  Bạn nên đi khám nếu có triệu chứng của viêm gan A hoặc nghi ngờ có tiếp xúc với virus. Xét nghiệm có thể chẩn đoán chính xác bạn có bị nhiễm virus hay không.
Trong một số trường hợp, bác sĩ sẽ kiểm tra lượng bilirubin trong máu. Bình thường thì chất cặn này hồng cầu chết sẽ được chuyển hóa ở gan và đào thải qua nước tiểu. Nhưng tình trạng gan viêm sẽ cản trở khả năng chuyển hóa bilirubin, dẫn đến nồng độ bilirubin tăng cao trong máu. Bác sĩ cũng sẽ kiểm tra nồng độ các men gan tăng cao trong máu như aminotranferases – được giải phóng khi gan bị tổn thương.
Mặc dù cả hai xét nghiệm này đều gợi ý sự hiện diện của viêm gan A, bạn cũng cần làm miễn dịch phóng xạ để xác định chính xác tuýp viêm gan bạn nhiễm. Xét nghiệm này xác định các kháng thể mà hệ thống miễn dịch của bạn tạo ra để đáp ứng với kháng nguyên – là những protein đặc trưng của virus. Kháng thể này có thể không xuất hiện trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng sau khi bạn bị viêm gan, bởi vậy xét nghiệm quá sớm có thể cho kết quả âm tính giả.
Hơn nữa, các kháng thể này vẫn tồn tại trong máu ngay cả khi bạn đã hồi phục. Vì vậy, sự hiện diện của một số kháng thể này không nhất thiết chỉ ra có nhiễm trùng hoạt động.

Ăn uống không ngon miệng, người mệt mỏi, buồn nôn, sốt nhẹ, tiêu chảy, mắt vàng… đó là những biểu hiện cho thấy bạn đã bị nhiễm viêm gan A.

Xuất hiện từ thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, Hyppocrate đã có những mô tả lâm sàng về bệnh viêm gan A và gọi đó là “bệnh vàng da truyền nhiễm”. Đến năm 1947, y học thế giới mới thông nhất là bệnh viêm gan A.


Virut viêm gan A
1. Lần theo dấu vết
Theo như lời kể của BS. Nguyễn Đức Trung (Trưởng khoa Tiên hóa, bệnh viện Quân y 354, Hà Nội) cho biết: Tại Mỹ mỗi năm có khoảng 20% người dân mắc bệnh viêm gan A, tiêu tốn mất 300 triệu đô la. Bệnh viêm gan A so với viêm gan B hoặc C khác nhau ở chỗ là nó là một nhiễm trùng cấp tính chứ không phải mãn tính. Nhưng nếu bạn để bệnh diễn biến trong thời gian kéo dài. Thì nó sẽ trở thành mãn tính với những biến chứng nguy hiểm không kém gì viêm gan B hay C. Nếu bệnh ở mức nhẹ, tự nó sẽ khỏi thì bạn sẽ được ăn uống và nghỉ ngơi đầy đủ. Thời kỳ ủ bệnh thường là khoảng 4 tuần với các biểu hiện khác nhau ở từng người.
Ở một số người có thể không có bất kỳ triệu chứng nào, trong khi những người khác lại có những biểu hiện tương tự như bệnh cúm. Chính vì vậy, rất nhiều bệnh nhân thường lầm viêm gan A với bệnh cảm cúm như trường hợp một bệnh nhân tên Nguyễn Văn P. 42 tuổi, quê ở Nghệ An được đưa đến bệnh viện chúng tôi trong tình trạng bệnh đã phát triển ở mức độ nặng.
Bệnh nhân này không có kiến thức về y học, lại ngại đi thăm khám, nên trong giai đoạn đầu ủ bệnh, thấy cơ thể mệt mỏi, chán ăn, người suy nhược…anh ta cứ nghĩ mình bị suy nhược cơ thể do làm việc nhiều. Anh ta đã đi mua nhiều thuốc về tẩm bổ, nhưng người vẫn càng ngày càng mệt mỏi hơn. Đến lúc thấy mình có triệu chứng sốt nhẹ, anh lại tự ý đi mua thuốc cảm cúm về uống nhưng vẫn không thấy đỡ. Khi thấy cơ thể giảm cân, hay buồn nôn gần giống như bệnh giun sán, nên anh uống thuốc tẩy giun và bị ngộ độc thuốc giun. Đến khi nhập viện, các bác sỹ chuẩn đoán anh bị viêm gan A thì bệnh đã nặng chuyển sang mãn tính: sốt cao kéo dài hôn mê, mắt vàng, phân bạc màu, điều này gây khó khăn và tốn kém rất lớn cho quá trình điều trị.
2. Các giai đoạn của viêm gan A
- Giai đoạn mới phát:
Các triệu chứng lâm sàng tăng dần theo cấp độ nhẹ của bệnh. Trong thời gian đầu ủ bệnh từ 5-7 ngày người bệnh cảm thấy mệt mỏi, chán ăn, hoặc ăn không thấy ngon, nhiều khi ăn vào cảm thấy buồn nôn, lượng thức ăn được hấp thu kém đi, người bệnh thường bị giảm cân, đây là thời kỳ khó tìm ra bệnh, vì những triệu chứng của bệnh khiến nhiều người lầm tưởng với bệnh giun sán hoặc suy dinh dưỡng. Nhiều bệnh nhân trong thời gian này không có biểu hiện gì cụ thể, đặc biệt là đối với trẻ em dưới 6 tuổi.
- Giai đoạn toàn phát:
Ở giai đoạn này, thường là bệnh nhân đã ủ bệnh từ 2-6 tuần. Bệnh nhân thường có triệu chứng sốt cao, vàng da, nước tiểu màu trà, tinh thần hoảng loạn, mệt mỏi. Ở gian đoạn này bệnh đã phát triển ở mức độ khá nguy hiểm, nếu không kịp thời chữa trị.
- Giai đoạn kết:
Bệnh nhân được nhập viện chữa trị kịp thời sẽ có những dấu hiệu phục hồi như: da không còn vàng, mắt nhìn rõ hơn, nước tiểu trở lại bình thường, ăn ngon miệng, cơ thể khỏe mạnh hơn.
3. Biến chứng
Thường thì bệnh nhân bị viêm gan A không đáng lo ngại, vì chỉ sau một thời gian điều trị bệnh sẽ khỏi và không quay trở lại. Tuy nhiên, đối với những người ủ bệnh quá lâu mà bệnh không kịp chữa trị thì bệnh sẽ phát triển sang mức độ mãn tính giống như viêm gan B, C sẽ gây rối loạn tiêu hóa, suy gan cấp tính, gan teo nhỏ nguy cơ tử vong là rất cao. Ngoài ra, một số nghiên cứu còn cho thấy quá trình viêm gan A sẽ khiến người bệnh có nguy cơ mắc chứng xơ vữa động mạch.
Qua kinh nghiệm chữa trị, BS. Vũ Đức Trung khẳng định, đối với viêm gan A thì việc phòng bệnh luôn tốt hơn chữa. Phương pháp phòng bệnh tốt nhất là tiêm golobulin miễn dịch hoặc vaccine viêm gan. Globulin miễn dịch chỉ bảo vệ bạn trong một thời gian ngắn trong khi vaccine viêm gan có thể bảo vệ bạn tới 20 năm.
4. Nên làm gì khi bị viêm gan A?
- Phương pháp điều trị dễ thực hiện nhất là người bệnh nên được nghỉ ngơi, ngừng tất cả các hoạt động công việc trong một thời gian cho tới khi khỏe lại.
- Bệnh nhân viêm gan A không nên dùng nhiều mỡ, đường để cho gan không phải làm việc nhiều và tuân thủ chế độ dinh dưỡng do bác sỹ đề ra.
- Người bệnh nên đến bệnh viện khám, xét nghiệm để xác định thể bệnh và cần điều trị nội trú tại bệnh viện.
- Người đang bị viêm gan A cần ăn uống vệ sinh, không ăn rau sống, tiết canh, thực phẩm bán lề được không được che đậy và nên cách ly với người không bị bệnh.

Viem gan A do virut HAV gây ra, bệnh lây qua đường tiêu hóa, mọi người nhiễm HAV từ thực phẩm và nước nhiễm bẩn hoặc tiếp xúc gần với người nhiễm HAV.



Chẩn đoán nhiễm HAV dựa trên kết quả đo kháng thể đặc hiệu trong máu bệnh nhân. Globbulin miễn dịch M (IgM) đặc hiệu cho HAV được tạo ra ở giai đoạn đầu lây nhiễm và tăng cao trong máu sau 4-6 tuần, sau đó giảm xuống và không còn thấy phát hiện sau 3-6 tháng. Ở giai đoạn này men gan bình thường trong phần lớn các trường hợp.
Kháng thể IgM đặc hiệu của HAV sẽ được thay thế bởi IgG có vai trò bảo vệ lâu dài ngăn ngừa sự tái nhiễm HAV. Hai xét nghiệm máu tìm kháng thể để chẩn đoán nhiễm HAV là IgM (Anti HAV IgM: dương tính trong huyết thanh) và kháng thể đặc hiệu toàn phần kháng Anti HAV . Nếu kết quả xét nghiệm chỉ dương tính với anti- HAV thì không thể phân biệt được lây nhiễm mới mắc phải hay đã từng mắc trước đó, nếu Anti HAV IgM dương tính thì có thể xác định được bệnh nhân đang bị nhiễm cấp tính. Anti HAV có thể dùng để xác định tình trạng miễn dịch sau khi tiêm vaccine.
Điều trị viem gan A
Hiện nay chưa có cách điều trị chuyên biệt khi nhiễm HAV và các thuốc kháng virus chỉ có hiệu quả giới hạn. Bệnh nhân chỉ cần thực hiện các lời khuyên sau:
- Bệnh thường nhẹ, chỉ cần nâng đỡ thể trạng, nghỉ ngơi, tránh các thức uống có cồn có thể làm tổn hại đến gan.
- Khẩu phần dinh dưỡng nhiều đạm.
- Có thể dùng thêm các loại sinh tố.
- Dùng thêm thuốc chống nôn ói nếu cần.
Lưu ý bệnh nhân chỉ nhập viện khi bị mất nước quá nhiều do nôn ói và chán ăn.

Hằng năm cứ vào mùa mưa lũ, nhiều địa phương nước ta, nhất là khu vực miền núi phía Bắc hay miền Trung thường phải đối mặt với việc sạt lở đất, lũ quét, ngập úng…, kéo theo đó là những hậu quả về bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của người dân. Một trong số những bệnh lây lan nguy hiểm trong mùa bão lũ là bệnh viêm gan A.


Viêm gan A dễ phát triển sau bão lụt
Viêm gan vàng da mạn tính: ngoài các triệu chứng nêu trên còn có vàng da, vàng mắt; viêm gan tái phát: sau khi có dấu hiệu lành bệnh bỗng bệnh tái phát với các triệu chứng như lần trước.
Đường lây bệnh: sau những đợt lũ lụt các vùng đồng ruộng, ao hồ, nước đọng, là nơi tập trung của virut viêm gan A, chúng xâm nhập vào tôm, cua, ốc…
Khi người ăn tôm cua ốc mà chưa nấu chín kỹ sẽ bị mắc bệnh. Mặt khác khi người tắm, bơi lội, rửa thức ăn… cũng bị nhiễm bệnh.
Virut có trong mồ hôi, nước bọt, nước tiểu và nhiều nhất là trong phân người mắc bệnh, nên khi tiếp xúc trực tiếp, dùng chung đồ dùng, ăn uống chung bát đũa với người bệnh rất dễ bị lây bệnh.
Phòng bệnh: xử lý tốt chất thải của bệnh nhân viêm gan A  bằng vôi bột, cloramin. Sau lũ lụt phải dọn vệ sinh và khử khuẩn các công trình như nhà ở, giếng nước, hố xí…
Ăn chín, uống chín, không ăn rau sống, không uống nước lã. Không dùng chung đồ dùng với bệnh nhân. Tiêm phòng vaccin viêm gan A là cách phòng chống bệnh hiệu quả nhất.

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Viêm gan siêu vi là một trong những căn bệnh nguy hiểm và dễ lây lan. Bệnh có thể tiến triển đến xơ gan, ung thư gan (viêm gan B, C) và gây tử vong ở người bệnh khi có biến chứng xấu xảy ra. Tuy nhiên không phải ai khi nhiễm các loại virus này cũng đều mang bệnh nặng mà có rất nhiều người đã tự đào thải virus ra bên ngoài được và trở thành người khỏi bệnh.

Cơ thể người bệnh tự đào thải virus

Theo các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã, khi cơ thể chúng ta bị virus viêm gan tấn công, hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ bảo vệ chúng ta bằng cách tạo ra kháng thể. Kháng thể giống như một “đội đặc nhiệm” để chống lại các “kẻ thù” xâm nhập vào cơ thể. Đối với mỗi loại siêu vi, cơ thể sẽ tạo ra các loại kháng thể chuyên biệt. Các kháng thể này hoạt động bằng cách gắn vào siêu vi để trực tiếp hay gián tiếp tiêu diệt chúng hoặc ngăn không cho chúng lan tràn vào các tế bào khỏe mạnh.
Hiệu quả của các kháng thể cũng thay đỗ tùy vào từng loại siêu vi. Kháng thể chống lại siêu vi viêm gan A thì rất hữu hiệu cho nên gần như 100% trường hợp sẽ khỏi bệnh hoàn tòan mà không cần phải uống bất kỳ một loại thuốc nào cả. Còn đối với siêu vi viêm gan B, nếu mắc bệnh vào tuổi trưởng thành thì 90% trường hợp sẽ tự hồi phục và cơ thể sẽ có kháng thể bảo vệ chống lại bệnh gần như suốt đời. Ngược lại, đối với siêu vi viêm gan C thì đến 85% bệnh nhân vẫn tiếp tục bị bệnh do kháng thể tạo ra không đủ khả năng để tiêu diệt và loại trừ siêu vi C. Khi bệnh nhân đã có kháng thể đối với một loại siêu vi viêm gan này thì vẫn có thể bị nhiễm những loại siêu vi viêm gan khác.
Lời khuyên của bác sĩ
Hệ thống miễn dịch của cơ thể chỉ tạo được kháng thể chống siêu vi viêm gan sau khi siêu vi đã vào cơ thể khoảng vài tuần. Trong suốt thời gian hệ thống miễn dịch chưa có khả năng đề kháng, siêu vi đã gây hư hoại cho gan và bệnh nhân có triệu chứng của bệnh gan. Do siêu vi đã có mặt trong cơ thể người bệnh một thời gian trước khi xuất hiện các triệu chứng cho nên những người bị nhiễm siêu vi mà chưa có triệu chứng vẫn có thể lây lan cho người khác.
Đối với virus viêm gan A, phần lớn người bệnh có thể tự đào thải virus ra khỏi cơ thể, do đó, với các bệnh nhân viêm gan A, chỉ cần ăn uống đảm bảo vệ sinh, nghỉ ngơi hợp lý là bệnh tình có thể khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên, virus viêm gan A lại rất dễ lây lan qua con đường ăn uống nên nó dễ dàng bùng phát thành đại dịch, đặc biệt là vào mùa mưa lũ, vì thế phải hết sức chú ý đến vấn đề vệ sinh môi trường cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm.
Còn với virus viêm gan B và C, do khả năng cơ thể đẩy lùi các loại virus này kém hơn nên người bệnh dễ trở thành người viêm gan mạn tính. Ở những người này nếu không biết và có phương pháp điều trị kịp thời thì bệnh tình rất dễ diễn tiến đến xơ gan và ung thư gan.
Hiện nay đã có vacxin chủng ngừa đối với virus viêm gan A, B nhưng chưa có vacxin chủng ngừa viêm gan C. Đối với các loại virus đã có vacxin tiêm phòng thì chúng ta nên đi tiêm đầy đủ các mũi tiêm. Đặc biệt là ở những đứa trẻ được sinh ra từ những bà mẹ nhiễm virus viêm gan B được khuyến cáo nên tiêm phòng trong vòng 24h sau khi sinh để đạt hiệu quả phòng ngừa cao nhất. Còn đối với virus viêm gan C, chúng ta nên chú ý đến các con đường lây truyền của bệnh, có biện pháp phòng ngừa hiệu quả để tránh nguy cơ lây nhiễm bệnh cho mình và cho những người xung quanh. Đó cũng chính là những lời khuyên của các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã.
Viêm gan do virus là căn bệnh phức tạp và nguy hiểm. Do đó chúng ta cần có những hiểu biết để có các biện pháp phòng ngừa cũng như điều trị bệnh hiệu quả. Nếu cần tư vấn thêm về những vấn đề liên quan đến sức khỏe, các bạn hãy gọi đến đường dây điện thoại 0437181999 để nghe bác sĩ Phòng khám 12 Kim Mã tư vấn miễn phí cho các bạn.

Chanh là loại quả rất quen thuộc trong cuộc sống của chúng ta và các tác dụng tuyệt vời của loại quả này cũng được nhiều người biết đến. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu được tác dụng của nó đối với gan như thế nào. Dưới đây các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã sẽ giải thích cụ thể cho chúng ta.

Nước chanh giải độc gan
Nước chanh làm sạch gan và tăng cường hoạt động của gan thông qua tăng quá trình sản xuất ra một axit mật, một loại axit cần thiết cho sự tiêu hóa. Nước chanh cũng giúp kiểm soát lượng mật thừa, giảm lượng đờm sản sinh trong cơ thể và giúp hòa tan sỏi mật.

Ngoài ra, theo các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã, nhờ có cấu trúc nguyên tử tương tự như của dịch tiêu hóa, nước chanh có tác động tích cực tới bộ máy tiêu hóa của cơ thể. Nó giúp tẩy rửa ruột bằng cách loại trừ những chất cặn bã và kích thích sự sản sinh dịch vị, chất giúp tăng cường tiêu hóa. Đặc tính này của nước chánh giúp giảm các triệu chứng như khó tiêu, chứng ợ nóng và đầy hơi.
Nên uống nước chanh mỗi ngày
Nước chanh rất tốt cho cơ thể con người, đặc biệt là nước chanh ấm. Người bệnh có thể uống một cốc nước chanh ấm vào buổi sáng để tăng sức đề kháng cho cơ thể, tiêu hóa được tốt hơn và cảm giác tinh thần được thoải mái hơn.
Nước chanh có tác dụng làm sạch gan
Ngoài tác dụng giải độc gan nước chanh còn giúp có tác dụng lợi tiểu, làm đẹp da và giảm cân… vì thế nếu uống nước chanh hàng ngày chúng ta còn có thể hạn chế nguy cơ béo phì, từ đó giảm nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ.
Tuy nhiên, chúng ta không nên uống nước chanh lúc đói vì axit có trong chanh lúc này lại trở thành thủ phạm hại dạ dày, gây cho bạn cảm giác cồn cào, buồn nôn và mệt mỏi hơn.
Gan là một cơ quan rất quan trọng trong cơ thể vì thế việc bảo vệ gan như thế nào để có một lá gan khỏe mạnh nhất là việc làm rất quan trọng. Chúng ta cần có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi khoa học, ăn những thức ăn sạch, không có chất độc hại, không uống rượu bia và cần phải đi kiểm tra sức khỏe định kỳ để nắm rõ tình trạng sức khỏe của lá gan, từ đó có biện pháp phòng và điều trị bệnh kịp thời, hợp lý. Đó chính là lời khuyên của các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã.
Phòng khám 12 Kim Mã là cơ sở điều trị bệnh gan chuyên nghiệp của Hà Nội, có các thiết bị điều trị và chẩn đoán bệnh gan tiên tiến của quốc tế và đội ngũ các bác sĩ chuyên ngành nhiều kinh nghiệm lâm sàng phong phú, có thể phân tích tường tận bệnh tình của từng bệnh nhân, đưa ra các phương án điều trị thích hợp nhất cho từng bệnh nhân để mang lại hiệu quả điều trị tốt nhất, sớm lấy lại sức khỏe!

Bệnh gan là một loại bệnh thường gặp, đặc biệt là viêm gan B có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, nhưng hiện nay vẫn chưa có liệu pháp điều trị có hiệu quả lí tưởng, do đó dù là ai mắc phải căn bệnh này đều lo lắng và bi quan ở các mức độ khác nhau. Chính tâm lý lo lắng, sợ hãi này vô hình chung làm cho bệnh tình của người bệnh thêm nặng hơn.

Sự nguy hiểm của bệnh viêm gan B
Bệnh viêm gan B do virus viêm gan B (HBV = Hepatitis B virus) gây ra. Sau khi nhiễm, siêu vi theo đường máu đến gan nhưng HBV tự nó không gây tổn thương gan trực tiếp, mà do hoạt động của hệ miễn dịch chống lại HBV trong tế bào gan.

Viêm gan B lây lan lặng lẽ, tiến triển âm thầm. Đa số người bị nhiễm virus viêm gan B đều không biết là mình bị nhiễm và có thể vô tình lây sang người khác qua đường máu, quan hệ tình dục, từ mẹ sang con. Virus viêm gan B tấn công gan “thầm lặng” trong nhiều năm mà bệnh nhân không hề hay biết. Khi bệnh nhân cảm thấy các vấn đề về sức khỏe cần đi khám bệnh thì bệnh thường đã vào giai đoạn cuối khi đã có biến chứng xơ gan, ung thư gan.
Tâm lý sợ hãi bệnh
Do viêm gan B là căn bệnh nguy hiểm, dễ lây lan lại có biến chứng nguy hiểm nên người bệnh thường vô cùng lo sợ. Khi không may nhiễm phải virus viêm gan B, người bệnh thường sống trong tâm trạng sợ hãi và bi quan, lo lắng mọi người biết nên thường trở nên khép kín. Cùng với đó là do sự thiếu hiểu biết của mọi người xung quanh về căn bệnh này nên họ đã xa lánh người bệnh, điều đó càng làm cho tâm lý người bệnh thêm khủng hoảng. Tâm lý sợ hãi, bi quan này của người bệnh không ảnh hưởng trực tiếp đến liệu trình điều trị nhưng vô hình nó làm cho bệnh tình của người bệnh nặng thêm, do đó việc chữa trị cũng gặp khó khăn hơn.
Chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân viêm gan B là rất cần thiết
Khi bị nhiễm virus viêm gan B, người bệnh thường có tâm lý không tốt, vì vậy người nhà cũng như bạn bè xung quanh cần phải giải tỏa tâm lý khủng hoảng cho người bệnh, an ủi tinh thần, giúp họ có được tâm lý thoải mái, xây dựng niềm tin chiến thắng bệnh tật cho họ. Ngoài ra, người nhà của bệnh nhân cũng cần phải hiểu rõ về bệnh viêm gan B cũng như các con đường lây truyền của nó để có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả, tránh trường hợp do không hiểu rõ mà xa lánh, hắt hủi người bệnh.
Khi không may mắc phải căn bệnh này, người bệnh cũng không nên quá lo lắng bởi viêm gan B nguy hiểm nhưng nếu được phát hiện sớm và có phương pháp điều trị phù hợp thì cơ hội khỏi bệnh là rất cao. Người bệnh nên đi khám và làm các xét nghiệm chuyên sâu như kiểm tra định lượng 5 hạng mục viêm gan B, đo lường nồng độ virus, kiểm tra chức năng gan… để đánh giá chính xác tình trạng bệnh của mình thế nào, từ đó có được phác đồ điều trị phù hợp.
Ngoài việc tuân thủ nghiêm ngặt liệu trình điều trị của bác sĩ, người bệnh cần giữ tinh thần của mình thoải mái, có chế độ ăn uống khoa học và tập luyện phù hợp với sức khỏe sẽ giúp bệnh tình thuyên giảm rất nhanh. Đó là những lời khuyên của các bác sĩ Phòng khám đa khoa 12 Kim Mã.

Nước đá hay những đồ uống lạnh là những thứ được ưa chuộng rất nhiều vào mùa hè. Tuy nhiên đối với bệnh nhân viêm gan, khi gan của họ đã bị tổn thương rồi thì các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã khuyến cáo họ không nên uống đá hay bất cứ đồ uống có ga nào vào mùa hè.

Bệnh nhân viêm gan không nên uống nước đá
Người bị viêm gan nên uống nhiều nước, nhưng lại kiêng không được uống nước đá. Tuy nước đá không phải là nguyên nhân gây bệnh, nhưng thông thường chúng ta mua hoặc làm đá có thể không sạch, mà người bị viêm gan là gan đã tổn thương, lọc kém nên những thứ bẩn từ nước đá có thể nhanh chóng tích tụ vào gan, khiến bệnh nặng hơn.

Ngoài ra, bệnh nhân bị viêm gan cũng được khuyến cáo không nên uống các loại nước có ga bởi các loại nước này có chất hóa học nên đối với bệnh nhân viêm gan, nếu uống vào thì gan sẽ phải làm việc nặng hơn, do đó bệnh tình sẽ ngày càng trầm trọng hơn.
Bệnh nhân viêm gan không nên uống nước đá
Bệnh nhân viêm gan nên ăn uống như thế nào?
Đối với chế độ dinh dưỡng của bệnh nhân viêm gan, người bệnh không cần phải kiêng khem quá mức bởi nếu kiêng khem quá mức người bệnh sẽ bị thiếu chất dinh dưỡng, chán ăn, mệt mỏi,… do đó càng làm cho bệnh thêm nặng hơn.
Người bệnh cần phải được bổ sung đủ chất dinh dưỡng: chất đạm, chất béo, chất xơ… Bệnh nhân viêm gan nên ăn nhiều rau củ quả và trái cây như một số loại rau như rau ngót, cần tây, diếp cá, rau lang… Một số loại trái cây như cam, chanh, bưởi, nho, táo… cũng rất tốt cho bệnh nhân viêm gan.
Người bệnh nên hạn chế mỡ động vật trong thức ăn hàng ngày. Điều này sẽ làm cho lượng mỡ trong máu giảm, lượng mỡ vận chuyển qua gan giảm, qua đó giảm gánh nặng cho gan. Thay vì mỡ động vật, người bệnh nên sử dụng các loại dầu thực vật như dầu mè, dầu đậu nành, dầu olive,…
Người bệnh nên hạn chế các loại gia vị có tính cay, nóng như tỏi, tiêu, ớt, gừng, riềng… Và đặc biệt là phải kiêng rượu bia. Khi bị viêm gan mà người bệnh vẫn tiếp tục uống rượu bia sẽ làm quá trình chuyển đến xơ gan và ung thư gan nhanh hơn rất nhiều.
Viêm gan là căn bệnh nguy hiểm, có thể gây tử vong nếu chúng ta không hiểu và có phương pháp phòng, điều trị bệnh thích hợp. Vì vậy, nếu bạn hay người thân có những thắc mắc về bệnh gan vui lòng liên hệ đến số điện thoại 0437.349.392 – 0437.181.999 để được các bác sĩ Phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã tư vấn trực tiếp.

Chữa bệnh về gan cấp bằng các bài thuốc dân gian mang lại hiệu quả bất ngờ cho bạn

Tên khoa học là Cynara scolymus L. Tính mát, vị đắng nhạt, hương thơm dịu. Ac-ti-sô chuyên chữa bệnh về gan câp khó trị như: viêm gan mãn tính; xơ gan cổ trướng lâu năm biến dạng bụng to, da vàng, phù thũng, mắt vàng; chức năng gan suy giảm, biến chứng viêm thận, người luôn mệt mỏi, mạng sườn bên phải luôn đau âm ỉ, ổ ngực tức, miệng đắng, ngán ăn, tiểu tiện khó, tiểu nhắt, mụn nhọt nổi khắp mặt, miệng lưỡi đắng, nhiều bợn bã trắng đóng ở lưỡi gây hôi miệng..


Đây là triệu chứng của gan bị thiếu mật, không thông mật, tỳ hư. Ac-ti-sô giúp kiện tỳ, thanh nhiệt, lợi mật bằng cách chế biến thành món ăn, đơn thuốc qua trị liệu và thử nghiệm lâm sàng cho rất nhiều bệnh nhân kết hợp với chế độ dinh dưỡng hợp lý, kết quả đạt mức 88,47% và 72,58%.
Trị thân nhiệt nóng, da mặt nổi mụn nhọt, bọc mủ, mẩn ngứa: dùng 300gr ac-ti-sô cả thân, rễ rửa sạch, cắt khúc 3cm, phơi thật khô (hoặc sao khử thổ vàng), sắc với 1 lít nước + 1/3 muỗng muối hạt (hoặc bọt) còn 700ml. Uống giải khát như nước, liền trong 7 ngày.
Chữa bệnh về gan cấp

Chữa bệnh về gan cấp với atiso

Atiso chữa bệnh về gan cấp có hiệu quả không ?
Gan viêm mãn tính, tỳ hư, mật thiếu:dùng 350gr bông ac-ti-sô, tách từng đài hoa rửa sạch, 250gr thịt nạc lợn, 150gr gan lợn rửa sạch, thái lát mỏng, 5gr bột nghệ (hoặc 20gr nghệ tươi giã nát), 1/3 muỗng muối, 1/3 muỗng đường, ½ muỗng bột nêm. Thịt nạc hoặc gan lợn ướp đều với muối, bột nêm, đường để khoảng 15 phút. Hoa ac-ti-sô xào qua với 2 muỗng dầu thực vật. Nấu với 1 lít nước, sôi khoảng 20 phút, cho thịt vào nấu tiếp còn 500ml, nhấc xuống, ăn trong ngày, liên tục 7-10 ngày. Bài thuốc này không những có tác dụng bổ gan, điều trị viêm gan tiêu thực, thanh nhiệt mà còn ngăn ngừa biến chứng từ viêm qua ung thư gan.
Xơ gan cổ trướng lâu năm biến chứng đau tức ngực, sườn, miệng đắng, chát, hôi, biếng ăn, mệt mỏi: dùng 1kg gan lợn rửa sạch, thái nhỏ hạt lựu (hoặc sợi nhuyễn), 150gr nghệ tươi thái mỏng, sao khử thổ vàng, giã nát, 350gr bông, thân actisô tươi băm nhuyễn, 10 quả hồng táo, 20gr nhân trần, 20gr mạch nha (3 thứ này mua ở hiệu thuốc Đông y). Cho gan lợn và nghệ vào 1.500ml nước, đun sôi khoảng 30 phút, cho 3 thứ táo, nhân trần, mạch nha vào, thêm ½ muỗng đường, 1/3 muỗng bột nêm. Nấu còn 1.000ml, chắt nước uống 6 lần/ngày, xác ăn 2 lần/ngày, da sẽ hồng hào, thông tiểu, khỏe hẳn sau 10 ngày ăn.
Mật suy giảm, có triệu chứng sỏi mật ảnh hưởng đến gan bị suy yếu, ăn kém, người gầy, sắc da mặt tối, nám, môi thâm, bụng, cổ nổi gân xanh (do giãn tĩnh mạch), miệng khô khát, nước tiểu vàng, ứ huyết: dùng 1kg thân, hoa, rễ ac-ti-sô, 350gr chè xanh, băm nhuyễn cả hai, sao khử thổ vừa vàng; 1 con cá diếc 250gr, 100gr đậu xanh để cả vỏ. Cá làm sạch vảy, bỏ ruột, giữ lại bong bóng và trứng, 5gr gừng tươi thái sợi. Cá và đậu xanh nấu trong 3 chén nước đầy, sôi 10 phút cho thêm ac-ti-sô, chè xanh, gừng và nêm nếm gia vị vừa ăn. Đun lửa nhỏ, sau 20 phút vớt cá ra ăn, nước uống 3 lần/ngày. Ac-ti-sô chữa bệnh về gan cho hợp chất flavonoid có tác dụng tăng tiết mật, bảo vệ gan,chữa viem gan B; chè xanh có tác dụng rửa lọc gan sạch; cá diếc và đậu xanh liên kết phá ứ đọng huyết. Kết hợp các dược liệu này giúp người bệnh phục hồi sức khỏe, da dẻ hồng hào.

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Chè có vị chát, đắng, ngọt, hơi chua, tính lương không độc, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc, trừ phong thấp, làm bền mạch máu…Tuy chè được liệt vào một trong những vị thuốc tham gia vào phòng và trị viêm gan cấp và mạn tính nhưng những người đã mắc bệnh gan thì không nên uống nhiều nước chè đặc.

 

Nước chè đặc hại gan
Gan là cơ quan có tác dụng sản xuất, điều phối, dự trữ, kiểm soát việc sản xuất và bài tiết cholesterol… đưa chất dinh dưỡng đi nuôi cơ thể, đào thải độc tố nội ngoại sinh và chất cặn bã ra ngoài cơ thể, đảm bảo quá trình khép kín trong việc trao đổi chất. Khi người đã mắc bệnh gan tức đã có sự tổn thương tế bào hay nhu mô gan nghĩa là tổn thương bộ phận của cỗ máy, bộ phận cỗ máy trục trặc thì ảnh hưởng tới hiệu suất chất lượng làm việc.
Trong nước chè có khá nhiều hợp chất của tannin và và theocin, hai chất này vào dạ dày sẽ kết hợp với protein, vitamin B1 và chất sắt trong thức ăn gây đông vón abumin và các axit amin có trong thức ăn, hình thành những hợp chất gây cản trở quá trình tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng của cơ thể.
Hơn nữa ảnh hưởng tới quá trình bài tiết dịch vị đường ruột và dịch mật do tính săn se niêm mạc của chè dẫn đến ức chế nhu động ruột làm khó tiêu, táo bón. Lúc này nhu động ruột hoạt động kém sẽ ảnh hưởng tới dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể, lượng độc tố sẽ tồn đọng, gan phải tăng hiệu suất làm việc nên làm tăng gánh nặng và tổn thương gan hơn.
Bệnh nhân bệnh gan không nên uống nước chè đặc
Hàm lượng cafein trong chè cao, mất thăng bằng chức năng của dạ dày và ruột, ảnh hưởng đến việc hấp thu sắt của cơ thể, lâu dài có thể gây thiếu máu, thiếu sắt, mất cân bằng các nội tiết tố.
Bị bệnh gan nên ăn uống thế nào?
Khi không may mắc phải một bệnh gan nào đó, người bệnh nên trao đổi trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa gan để có được liệu pháp điều trị cũng như chế độ ăn uống phù hợp nhất, tránh để bệnh tình quá nặng mà có các biến chứng xấu xảy ra.
Người bệnh cần có chế độ ăn cân đối giữa các như chất đường, đạm, béo và tuyệt đối phải cung cấp đầy đủ năng lượng cho cơ thể. Vì có ăn uống đầy đủ chất và cung cấp đầy đủ năng lượng cho cơ thể thì mới có đủ sức kháng cự lại tình trạng viêm nhiễm của gan cũng như chống lại các tác dụng phụ do thuốc dùng trong quá trình điều trị gây ra. Khi người bệnh chưa có cảm giác mệt mỏi, chán ăn thì không nên quá kiêng khem trong ăn uống. Vì như thế sẽ làm cho người bệnh cảm thấy chán ăn, ăn uống kém, từ đó người bệnh càng mệt mỏi hơn, thiếu sức đề kháng của cơ thể và làm cho bệnh gan bị nặng hơn.
Người bệnh cũng cần tuyệt đối kiêng rượu bia bởi nếu uống rượu, bia nhiều thì có thể làm cho bệnh tiến triển đến xơ gan nhanh hơn.
Ngoài ra, người bệnh cần phải nghỉ ngơi và sinh hoạt bình thường, nên tập thể dục, thể thao vừa sức, tránh lao động quá nặng nhọc để góp phần làm cho bệnh thuyên giảm nhanh nhất.
Đó là những khuyến cáo của các bác sĩ Phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã.

Với đội ngũ y bác sĩ tận tình, giàu chuyên môn, cơ sở vật chất hiện đại, cập nhật những phương pháp chữa bệnh gan tiên tiến nhất trong nước và trên thế giới, phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã đã và đang trở thành một cơ sở y tế điều trị các bệnh về gan uy tín nhất tại Hà Nội hiện nay. Tùy vào đặc điểm bệnh tình, thể trạng của bệnh nhân, các bác sỹ chuyên khoa tại phòng khám sẽ tư vấn phương pháp và tiến trình điều trị bệnh cho từng bệnh nhân, sao cho đạt hiệu quả điều trị cao nhất. Hiện nay, phòng khám đang áp dụng 3 phương pháp chữa bệnh gan tiên tiến nhất, đó là công nghệ chữa bệnh gan bằng tế bào gốc, chữa bệnh gan bằng liệu pháp ozone và chữa bệnh gan bằng thuốc. Ba phương pháp chữa trị trên đều hướng tới mục đích chữa trị cuối cùng là khống chế số lượng virut trong cơ thể bệnh nhân, đưa về mức dưới ngưỡng phát hiện.

Dưới đây, chúng tôi xin được giới thiệu bệnh án của một bệnh nhân viêm gan B đã thành công trong việc khống chế số lượng virut, đưa lượng virut trở về dưới ngưỡng phát hiện bằng phương pháp dùng thuốc theo tiến trình điều trị của các bác sỹ chuyên gan tại phòng khám 12 Kim Mã. Xin được giới thiệu bệnh án của bệnh nhân này để quý độc giả tham khảo!
Tên bệnh nhân: Vũ. M. Q, 22 tuổi, ở NB.
Tháng 12 năm 2012, trong một lần đi thử máu, anh Q. tình cờ phát hiện mình đã bị nhiễm virut viêm gan B. Nghĩ rằng đây là một căn bệnh nan y, không thể chữa khỏi, người mắc bệnh này sẽ bị xã hội xa lánh nên anh Q. vô cùng tự ti, mặc cảm, không dám đến bệnh viện để điều trị. Cho đến khi bệnh tiến triển nhanh chóng, bắt đầu xuất hiện dấu hiệu hoàng đản, sốt, chán ăn, trướng bụng, anh Q. mới quyết định đi khám. Qua các phương tiện truyền thông, anh Q. đã tìm đến phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã để được xét nghiệm tổng quát về gan, xác định rõ tình trạng bệnh của mình.
Kết quả xét nghiệm viêm gan B bước đầu của anh Q. tại phòng khám như sau:


Kết quả xét nghiệm viêm gan B của anh Q.
Theo kết quả xét nghiệm trên, anh Q. đã nhiễm virut viêm gan B thể mãn tính, virut đang hoạt động và sao chép mạnh.
Hơn nữa, theo kết quả siêu âm, anh Q. đã có biểu hiện gan xơ hóa nhẹ, gan thô, kích thước gan tăng nhẹ. Do đó, bác sỹ yêu cầu anh phải tiến hành điều trị ngay trước khi chuyển sang giai đoạn gan xơ hóa.
Sau 2 tháng điều trị tích cực bằng thuốc, dưới sự theo dõi sát sao của bác sỹ chuyên khoa, kết hợp với chế độ sinh hoạt hợp lý mà các bác sỹ tư vấn, kết quả điều trị của anh Q. rất khả quan: số lượng virut đã được khống chế thành công, từ 1.039.000 copies/ml ban đầu chuyển thành dưới ngưỡng phát hiện. Đây thực sự là một kết quả điều trị rất đáng mừng, virut đã giảm đáng kể , và trong tình trạng có thể khống chế được.
HBV DNA
Lượng HBV DNA giảm xuống dưới ngưỡng phát hiện sau 2 tháng tích cực
Đồng thời, sau 2 tháng tích cực điều trị, kích thước gan đã giảm, tĩnh mạch cửa không còn giãn:
sieu am
Sự thành công trong việc điều trị viêm gan B cho bệnh nhân, cùng với sức khỏe bệnh nhân ngày càng biến chuyển tốt thật sự là món quà vô giá đối với đội ngũ y bác sỹ tại phòng khám chúng tôi. Nếu phát hiện mình bị viêm gan B, hoặc thuộc nhóm đối tượng có khả năng nhiễm viêm gan B cao, các bạn nên đi khám gan tổng quát để biết được tình trạng bệnh của mình, từ đó có tiến trình điều trị phù hợp, tránh để lâu, bệnh tiến triển nặng thì sẽ rất khó chữa và có nguy cơ lây sang gia đình, người thân nhiều hơn.
Hiểu đúng về bệnh gan và hãy có ý thức bảo vệ lá gan của mình là cách tốt nhất để đẩy lùi căn bệnh đáng sợ viêm gan B!

Nhân trần tên khoa học Adenosma glutinosum (L.) Druce) thuộc họ hoa mõm chó (Scrophulariaceae), tên khác là chè nội, chè cát, hoắc hương núi, tuyến hương, mao xạ hương. Từ lâu, cả cây nhân trần được dùng làm thuốc với nhiều công dụng tốt. Dược liệu có vị đắng, the, mùi thơm, tính mát, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, thông tiểu tiện, làm ra mồ hôi.

Tuệ Tĩnh đã dùng nhân trần 30g phối hợp với dành dành 24 quả, thạch cao 4 – 6g nung, sắc uống để chữa hoàng đản (vàng da).
Chữa kém ăn, đầy bụng, khó tiêu: nhân trần 12g, kim tiền thảo 10g, cam thảo nam 10g. Các vị dùng cả cây trừ rễ, rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày sau bữa ăn. Hoặc nhân trần 20g, ké hoa vàng 20g, thân và rễ mộc thông 10g, rễ móc diều 10g, sao vàng, sắc uống (phụ nữ có thai không được dùng).
Dùng cho phụ nữ sau sinh:  nhân trần 8g sắc với mần tưới 20g, mạch môn 20g, ngải cứu 10g, rẻ quạt 4g, vỏ bưởi đầu khô 4g, tất cả cho vào sắc uống ngày 1 thang.
Để điều hòa kinh nguyệt: Nhân trần 12g, ích mẫu 12g, lá đuôi lươn 10g, bạch đồng nữ 10g, rễ gắm 8g, nghệ đen 6g. Sắc hoặc nấu thành cao lỏng, uống trong ngày.
Trị hen suyễn: Nhân dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long dùng nhân trần phối hợp với hoa cúc vạn thọ, rau cần, củ tầm sét, thài lài tía, rễ bạch đồng nữ và tinh tre mỡ, mỗi thứ 10g, sắc uống.

Ảnh: cây nhân trần
Đặc biệt nhân trần  có tác dụng chữa viêm gan do virut:
- Nhân trần 16g, lá vọng cách 16g, lá cối xay 12g, sắc uống.
- Nhân trần 16g, quả dành dành 12g, nghệ vàng 8g, sắc uống.
- Nhân trần 3g, vỏ núc nác 3g, nghệ vàng 3g, rau má 4g, sài hồ nam 2g, dành dành 2g, nhọ nồi 2g, hậu phác nam 2g. Nhân trần, vỏ núc nác, sài hồ, nhọ nồi, rau má nấu thành cao lỏng. Các dược liệu khác phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn. Trộn cao với bột làm thành viên. Ngày uống 10g chia làm 2 lần.
- Nhân trần và vỏ quả bưởi (bỏ phần cùi trắng) lượng bằng nhau, thái nhỏ, phơi khô, tán bột. Mỗi lần uống 6g, ngày 3 lần

Việc phát hiện ra tế bào gốc và cách tạo ra những tế bào gốc đã đem lại một cuộc cách mạng trong nghiên cứu y học. Các phương pháp chữa trị bệnh từ tế bào gốc cũng đang mang lại hy vọng cứu chữa nhiều căn bệnh nan y cho con người. Mặc dù chưa thực sự trở nên phổ biến, song ứng dụng trị bệnh từ tế bào gốc đã và đang mở ra hướng đi mới cho nền y học hiện đại. Xin giới thiệu một số ứng dụng trị bệnh triển vọng từ tế bào gốc.

Tạo tế bào tinh trùng từ tế bào gốc giúp điều trị vô sinh ở nam giới

Mới đây, một nghiên cứu phát triển tinh trùng từ tế bào gốc vừa mở ra một hướng điều trị mới đối với căn bệnh vô sinh ở nam giới. Đây là công trình của các nhà sinh vật học thuộc Trường đại học Newscastle – Anh và là một trong những đề tài thu hút được nhiều sự quan tâm của giới khoa học.
Bằng phương pháp này, các nhà khoa học đã thử phát triển tế bào gốc mang chromosomes XY (giới tính nam) thành các tế bào giao tử đơn bội (haploid gametes – sex cells). Tiếp theo, họ để cho những tế bào mới này tự phát triển thành các tế bào tinh trùng trưởng thành. Những tinh trùng được tạo ra sau đó sẽ được đem thụ tinh trong ống nghiệm bằng phương pháp IVD sperm (In vitro derived). Cách làm này đã được tiến hành trên chuột thí nghiệm và đã cho kết quả thành công. Điều đặc biệt là cách tạo tế bào tinh trùng từ tế bào gốc này có thể cho phép tạo ra những thế hệ mới với tỉ lệ sống sót cao hơn so với phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm thông thường. Với việc tạo ra tế bào tinh trùng từ tế bào gốc (được phát triển từ tế bào da), các nhà khoa học cho biết, chỉ cần một mẫu da, khoa học đều có thể tạo ra những thế hệ mới giống y hệt phiên bản cũ. Tuy nhiên, mục tiêu trước hết là nhằm khắc phục tình trạng vô sinh ở nam giới hiện nay.
Mở ra hy vọng điều trị căn bệnh ung thư vú
Triển vọng điều trị ung thư của tế bào gốc được các nhà khoa học đánh giá là điều đáng được quan tâm hàng đầu trong giai đoạn hiện nay. Trong phương pháp này, tế bào gốc chủ yếu được sử dụng để thay thế cho những tế bào bị mất do các cuộc phẫu thuật loại bỏ tế bào ung thư vú. Hàng nghìn phụ nữ mắc phải căn bệnh này sẽ có hy vọng được chữa trị khỏi bệnh và lấy lại vẻ đẹp tự nhiên của người phụ nữ nếu như việc cấy ghép tế bào gốc thay thế các tế bào ung thư được thực hiện thành công. Ngoài ra, không chỉ những vùng bị ung thư, mà ngay cả những vết sẹo lõm do bị mất một phần mô tế bào cũng có cơ hội được phục hồi như bình thường nếu việc cấy tế bào gốc được ứng dụng trên vùng vết thương đó. Trong cách điều trị này, các bác sĩ sẽ tiến hành cấy tế bào gốc vào phần cần chữa trị, sau khi để các tế bào này kết hợp lại với các tế bào mô mỡ. Các tế bào gốc được cấy vào sẽ phát triển bình thường và hình thành các lớp mô tế bào mới tại phần cơ thể đã bị phẫu thuật cắt bỏ do phát hiện có tế bào ung thư.
tri-benh gan bang cong nghe te bao goc
Sử dụng tế bào gốc trong chữa trị các tổn thương não bộ
Các tổn thương ở não bộ phần lớn là do sự tổn thương hoặc mất đi của các tế bào não. Để chữa trị chứng tổn thương này, các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu não tại London – Anh đã nghĩ đến một phương pháp nhằm tạo ra những tế bào não mới và phát triển chúng một cách hoàn thiện. Và điều này có thể thực hiện được với sự tham gia của tế bào gốc.  Các tế bào gốc này sẽ phát triển thành các tế bào não để thay thế cho những tế bào não đã bị tổn thương. Chúng sẽ phát triển và thực hiện các chức năng não bị khiếm khuyết do các chứng bệnh phổ biến như đột qụy, hay chấn thương sọ não… gây ra.
Theo GS. Andrea Brand – chuyên gia thuộc Viện Gurdon – Trường đại học Cambridge – Anh, vùng não con người còn chứa rất nhiều tế bào gốc không hoạt động và phát triển thành tế bào não. Điều các nhà khoa học cần làm đó là kích hoạt lại những tế bào gốc không hoạt động này để chúng hoạt động trở lại và thay thế cho những tế bào não đã bị mất hoặc bị chết đi. Vấn đề là não của con người có khoảng 100 tỉ nơron thần kinh hay còn gọi là các tế bào thần kinh. Để có tác động hiệu quả, điều quan trọng là cần hiểu rõ về cơ chế ngắt, mở hoạt động của các tế bào gốc nêu trên.
Ứng dụng tế bào gốc trong điều trị bệnh về gan
Theo kết quả điều tra chỉ tính riêng tại một quốc gia phát triển như Mỹ, bệnh gan là nguyên nhân gây ra tỉ lệ tử vong cao thứ tư trong các loại bệnh hiểm nghèo. Các nguyên nhân chủ yếu bao gồm: đột biến gen, nhiễm virút viêm gan, thói quen nghiện rượu, và việc sử dụng các loại thuốc tây thường xuyên. Khi chức năng gan yếu đi, nó có thể làm gia tăng nguy cơ mắc nhiều loại bệnh khác như tiểu đường, đa xơ cứng… và nhiều bệnh nan y khác. Các nhà khoa học thuộc Trường đại học Wisconsin -  Anh đã tìm ra cách phát triển tế bào gốc từ các tế bào da, sau đó kích thích chúng phát triển và đưa vào hoạt động thay thế cho chức năng của các tế bào gan đã bị hủy diệt hoặc tổn thương do bệnh.
Ngoài ra, các nhà khoa học Mỹ còn phát hiện ra rằng, tế bào gốc có thể phát triển thành hơn 200 loại tế bào đặc trưng tại các bộ phận, cơ quan khác nhau trên cơ thể con người. Kết quả nghiên cứu này vừa được đăng trên Tạp chí Journal Hepatology của Anh.

Nhó đông (Morinda longissima Y.Z.Ruan) thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), là một cây bụi, cao 2 – 4m, gỗ thân và rễ có màu vàng. Thân hình trụ, mọc thẳng, cành non có 4 cạnh, màu lục nhạt. Lá mọc đối hình bầu dục thuôn hoặc hình mác, dài 12- 18cm, rộng 6 – 10cm, gốc thuôn,  đầu nhọn, hai mặt lúc non gần như nhẵn, khi già mặt dưới  có ít lông ngắn mềm, gần giữa nổi rõ, cuống lá dài 2 – 3cm, lá kèm gần hình tim nguyên hoặc chia thùy.

 Cụm hoa mọc ở đầu cành  hay kẽ lá thành đầu có cuống dài 2 – 2,5cm,  hoa nhỏ, màu trắng sít nhau, ở gốc mỗi hóa có 1 – 2 hàng phiến bao hình dùi; đài lúc đầu rời nhau sau hàn liền; tràng có 4 – 5 cánh hợp thành ống dài 2,5 – 3cm; nhị 4 – 5 đính ở khoảng 2/5 phần trên của ống tràng, chỉ nhị ngắn; bầu 4 ô. Quả nạc gồm nhiều quả mọng nhỏ.

Cây nhó đông
Mùa hoa: tháng 4 – 6, mùa quả tháng 7 – 12. Cây mọc hoang rải rác ở ven rừng thứ sinh hoặc ở trên nương rẫy cũ với độ cao dưới 800m. Thường gặp ở Sơn La, Lào Cai, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế.
Bộ phận dùng làm thuốc của cây nhó đông là rễ, thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa thu, đào về, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Dược liệu có vị đắng, màu vàng, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, kiện tỳ, hoạt huyết, tiêu viêm, tán ứ, chữa viêm gan, vàng da, xơ gan, được dùng dưới các dạng thuốc sau:
- Nước sắc: dược liệu nhó đông 20 – 30g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
- Cao mềm: lấy 1kg rễ nhó đông, thái mỏng đổ nước xâm xấp, nấu kiệt làm 2 lần. Lần thứ nhất nấu trong 6 – 8 giờ, rút nước. Lần thứ hai trong 3 – 4 giờ. Trộn hai nước lại cô nhỏ lửa thành cao  mềm. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 – 4g.
Ngoài ra, còn dùng dạng cốm được bào chế từ cao nhó đông  trộn với đường.
Thuốc giúp người bệnh ăn ngủ tốt, hết vàng da, vàng mắt, đầy bụng.
Đồng bào ở xã Chiềng An, thị xã Sơn La còn dùng rễ hoặc thân già (phần sát gốc rễ của cây nhó đông phối hợp với rễ cây hé mọ (Psychotria) để chữa viêm đại tràng cho kết quả tốt

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Ung thư phổi là căn bệnh nguy hiểm, hàng năm cướp đi hàng triệu sinh mạng con người. Hiện nay, ung thư phổi không còn là bệnh chủ yếu ở nam giới mà tỉ lệ ung thư phổi ở phụ nữ và những người không hút thuốc lá đang tăng lên. Mới đây, các nhà khoa học Anh đã tìm ra phương pháp xét nghiệm mới để phát hiện sớm bệnh ung thư phổi.

Các nhà khoa học Anh vừa công bố một phát hiện mới, theo đó việc xét nghiệm máu đơn giản có thể giúp chẩn đoán các dấu hiệu ban đầu của bệnh ung thư phổi. Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí “Proceedings of the National Academy of Sciences” của Mỹ ngày 16/10.

Một nghiên cứu mới đây cho thấy ăn cơm có thể giúp phòng tránh ung thư đại tràng.

Giáo sư Ann Richardson ở Đại học Canterbury cho biết: “Số ca ung thư đại trực tràng tăng nhanh ở Nhật Bản và Hồng Kông. Loại ung thư này thường liên quan với những thay đổi trong chế độ ăn ở các nước này trong hơn 50 năm qua.”

Trong các loại bệnh ung thư thì ung thư tuỵ tạng dù tương đối ít phổ biến nhưng có tỷ lệ tử vong rất cao và liên quan nhiều đến thói quen hút thuốc lá. 


Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Người đau dạ dày không nên để đói, đồng thời không được ăn quá no. Cần ăn nhiều bữa trong ngày, mỗi bữa cách nhau từ 2 – 3 giờ. Khi chế biến thức ăn cần nghiền, xay, băm nhỏ, nấu nhừ, tăng cường luộc, hấp và hạn chế chiên, xào.

Nhiều chị em mong muốn có thân hình đẹp đã có những chế độ ăn thiếu khoa học, không những không đạt được mục đích mà còn gây hại dạ dày.

Viêm loét niêm mạc của dạ dày có thể gây đau, ợ nóng và buồn nôn. Loét do nhiều nguyên nhân gây ra như: do nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori, loét cũng có thể được gây ra do dùng thuốc giảm đau quá nhiều over-the-counter, như aspirin hoặc ibuprofen. Khi bị loét dạ dày bạn nên thay đổi chế độ ăn uống của bạn để tránh các loại thực phẩm có thể gây kích ứng dạ dày. Một số loại thực phẩm có thể chứa những chất có thể ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn H. pylori.

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Thống kê của các nhà khoa học cho thấy, nhóm máu có mối quan hệ với nguy cơ ung thư. Vậy nhóm máu nào dễ mắc bệnh ung thư.

Ung thư hay còn gọi là u ác tính, là sự phát triển không bình thường của các tế bào. Các tế bào này sinh sôi nảy nở và phát triển nhanh đến mức không kiểm soát được, có thể di căn và lan rộng ra những mô và tế bào khác.


Bệnh ung thư

Có một câu nói dành cho bệnh trĩ là “thập nhân cửu trĩ” bao hàm ý cứ mười người thì chín người bệnh trĩ. Bệnh trĩ khá phổ biến , thường gặp dưới 2 dạng là trĩ nội và trĩ ngoại. Bệnh trĩ thường biểu hiện ra ngoài thông qua 2 dấu hiệu cơ bản là chảy máu và sa búi trĩ

Chảy máu:

Chảy máu là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất. Lúc đầu chảy máu rất kín đáo, tình cờ bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy chùi vệ sinh sau khi đi cầu hoặc nhìn vào phân thấy vài tia máu nhỏ dính vào thỏi phân rắn. Về sau mổi khi đi cầu phải rặn nhiều do táo bón thì máu chảy thành giọt hay thành tia. Muộn hơn nữa cứ mỗi lần đi cầu, mỗi lần đi lại nhiều, mỗi lần ngồi xổm máu lại chảy. Đôi khi máu từ búi trĩ chảy ra đọng lại trong lòng trực tràng rồi sau đó mới đi cầu ra nhiều máu cục.


Sa búi trĩ:

Thường xảy ra trễ hơn sau một thời gian đi cầu có chảy máu, lúc đầu sau mỗi khi đại tiện thấy có khối nhỏ lồi ra ở lỗ hậu môn, sau đó khối đó tự tụt vào được. Càng về sau khối lồi ra đó to lên dần và không tự tụt vào sau khi đi cầu nữa mà phải dùng tay nhét vào. Cuối cùng khối sa đó thường xuyên nằm ngoài hậu môn.




Triệu chứng khác:

Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các biểu hiện khác như đau khi đi cầu, ngứa hậu môn. Thông thường trĩ không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biến chứng như tắc mạch, sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, áp xe cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết dịch gây viêm da quanh hậu môn làm cho bệnh nhân cảm thấy hậu môn lúc nào cũng có cảm giác ướt và ngứa.


Biến chứng nguy hiểm của bệnh trĩ

Người bệnh mắc trĩ thường chủ quan, cho rằng bệnh chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày mà không lường được những biến chứng nguy hiểm của bệnh trĩ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.


Nếu không được chữa trị kịp thời, bệnh trĩ để lại những biến chứng hết sức nguy hiểm như là:


Đau đớn và chảy máu: Mắc trĩ ở cấp độ nặng nhất, búi trĩ sẽ thòi ra ngoài, gây đau đớn cho người bệnh do bị cọ sát trong khi vận động.


Trĩ quá nặng sẽ khiến thành mạch máu giãn mỏng nên rất dễ thủng, dễ rách và chảy máu gây mất máu. Nếu chảy máu nhiều và tình trạng này kéo dài sẽ làm người bệnh bị thiếu máu. Khi đó, biến chứng này của bệnh trĩ sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng.


Tắc nghẽn: Búi trĩ to, máu dễ đông lại thành cục, gây tắc nghẽn và đau dữ dội cho người bệnh.


Bội nhiễm: Đây là biến chứng rất nguy hiểm có thể dẫn tới mắc các bệnh tật khác do bội nhiễm.


Khi trĩ thòi ra ngoài lâu gây chảy máu, nứt kẽ hậu môn, thậm chí rặn quá nhiều còn ảnh hưởng tới tầng sinh môn. Nứt, rách hậu môn và tầng sinh môn rất dễ bị bội nhiễm vi khuẩn từ phân và nước tiểu.

Người bị bệnh trĩ có thể tự điều trị bằng cách thay đổi thói quen ăn uống và sinh hoạt. Chế độ ăn của người bị bệnh trĩ cần bổ sung nhiều nước và chất xơ. Dưới đây là một số món ăn bổ dưỡng dành cho người bệnh trĩ.


Canh rau, đậu hũ sống

- Nguyên liệu: Rau (dùng một trong các loại rau quả sau đây: rau lang, rau dền, cải soong, cải bẹ trắng, cải bó xôi, bí đao, mướp đắng, rau má, cà chua, cà rốt) 300 – 500g, đậu hũ sống 200g, thịt lợn nạc (hoặc tôm đất) 50 -100g. Gia vị gồm: nước mắm, muối, tiêu, hành là, rau ngò.

- Cách làm: Rau rửa sạch cắt khúc ngắn, để ráo. Đậu hũ sống cắt miếng 2 x 2cm, dày khoảng 1,5cm. Thịt lợn nạc rửa sạch, xắt miếng mỏng, ướp với chút muối, tiêu, nước mắm. Cọng hành trắng xắt nhỏ, hành lá , rau ngò xắt nhỏ.

Cho vào nồi khoảng 3/4 lít nước, nấu sôi rồi cho thịt vào, hớt bỏ bọt, tiếp theo cho đậu hũ và cọng hành trắng vào, đảo nhẹ đều. Rau chín thì nêm gia vị cho vừa ăn. Cho hành lá, bắc nồi canh xuống, múc ra tô, rắc thêm ít tiêu và vài cọng ngò.



Dùng ăn nóng trong bữa ăn hoặc ăn không. Món canh rau, đậu hũ sống này còn có ích cho người bị tiểu đường, cao huyết áp, mỡ trong máu cao, người cao tuổi bị suy nhược cơ thể.

Canh hoa hòe, thịt lợn

- Nguyên liệu: Hoa hòe tươi 50g, thịt lợn nạc 100g, gia vị các loại.

- Cách làm: Hoa hòe rửa sạch, để ráo. Thịt rửa sạch, xắt miếng mỏng, ướp gia vị rồi đem nấu canh với hoa hòe đến khi chín là được. Nêm gia vị vừa ăn. Dùng ăn trong bữa cơm.

Cháo a giao, củ sen

- Nguyên liệu: A giao 20g, củ sen 80g, ý dĩ 60g, táo đỏ 4 trái, gạo tẻ 60g.

- Cách làm: Gạo vo sạch, thêm lượng nước vừa đủ, cùng các vị thuốc trên đã rửa sạch, nấu cháo nhừ. Dùng ăn vào lúc đói bụng.

Canh mồng tơi, cá diếc

- Nguyên liệu: Cá diếc 1 con, mồng tơi 300g.

- Cách làm: Cá bỏ ruột, làm sạch; mồng tơi rửa sạch, cắt nhỏ. Cho cá và nước lượng vừa đủ vào nồi, đun lửa lớn cho thật sôi, rồi hạ nhỏ lửa, khi cá chín thì cho rau mồng tơi vào, nấu sôi lại. Mồng tơi chín mềm thì nêm gia vị vừa ăn. Dùng ăn nóng trong bữa cơm.

Canh rau mồng tơi, mướp hương, cua đồng

- Nguyên liệu: Cua đồng 500g, mồng tơi 200g, mướp hương 500g, gia vị các loại.

- Cách làm: Cua đồng rửa sạch, để ráo, giã nhỏ, cho một chút muối vào cua, thêm nước lã rồi dùng tấm vải lược vắt lấy nước, bỏ bã để làm rêu cua. Mồng tơi rửa sạch, cắt nhỏ, mướp hương gọt vỏ, rửa sạch, xắt miếng xéo. Nấu sôi nước cua, nêm gia vị (nước mắm, muối, mắm tôm hoặc mắm ruốc) rồi cho mồng tơi và rau đay vào, nấu rau chín thì nêm bột ngọt. Dùng ăn nóng trong bữa cơm.

Bệnh trĩ là bệnh phổ biến, ai cũng có thể mắc phải. Tuy nhiên, dân văn phòng với đặc thù công việc chính là nhóm đối tượng thường bị bệnh trĩ tấn công nhất. Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh trĩ như táo bón kinh niên, béo phì…


Trong đó, thói quen ngồi nhiều, ít vận động của dân văn phòng làm tăng áp lực tĩnh mạch phần dưới trực tràng chính là một trong những nguyên nhân gây bệnh trĩ.

Trĩ là bệnh ở chỗ kín, vì vậy dân văn phòng bị trĩ thường có cảm giác ngại ngùng giấu bệnh nên không đi khám, chữa sớm. Chỉ đến khi bệnh đã quá nặng mới tìm đến các bác sỹ để chữa trị. Khi đó búi trĩ quá to hoặc để đến lúc quá đau đớn, gây ra những biến chứng rất nguy hiểm: tắc mạch, nứt kẽ hậu môn, sa búi trĩ, chảy máu ồ ạt cấp tính…

Bệnh trĩ nếu không chữa trị kịp thời sẽ có thể gây hậu quả nghiệm trọng như ung thư và nặng hơn sẽ là tử vong, vì vậy, ngay khi phát hiện những triệu chứng như trên thì bạn phải đi khám để được điều trị bệnh trĩ kịp thời. Tốt hơn hết, mỗi người nên học cách để phòng tránh căn bệnh này. Dưới đây là một số cách phòng tránh bệnh trĩ đơn giản mà rất hiệu quả dành cho những người làm công việc văn phòng.



- Tạo thói quen tốt cho sức khoẻ khi làm việc: Nên tránh đứng hoặc ngồi trong một thời gian dài vì như thế sẽ làm tăng áp lực tĩnh mạch chủ, do vậy sẽ dễ gây mắc bệnh trĩ. Vì thế khi đi làm, bạn nên tránh ngồi lâu hay đứng lâu một chỗ, năng hoạt động đi lại, nếu công việc đòi hỏi phải ngồi trong thời gian dài thì bạn nên đứng lên 5 đến 10 phút sau khoảng một tiếng ngồi làm việc. Điều đáng lưu ý là không nên lót gối mềm dưới mông, nó sẽ làm tăng hiện tượng chèn ép các tĩnh mạch.

- Thói quen ăn uống: Bạn nên tập thói quen uống nước nhiều, một ngày nên uống ít nhất là 1,5 lít nước, sẽ rất tốt cho sức khỏe của bạn và cũng là một cách phòng ngừa bệnh trĩ hiệu quả. Nó sẽ giúp cho việc tiêu hóa của bạn tốt hơn. Ăn nhiều rau xanh, trái cây cũng giúp cho phân mềm, khối phân tăng thêm nhờ đó mà chúng ta sẽ gián tiếp tránh được bệnh trĩ. Nên tránh dùng các thức ăn nóng vì sẽ làm bạn khó tiêu hóa và gây táo bón. Đặc biệt chú trọng dùng các đồ ăn thức uống có tính thanh nhiệt nhuận tràng như cháo đậu xanh, chuối tiêu, đu đủ, rau mồng tơi, rau lang, rau rệu, thanh long, nước cam, nước ép mã thầy, bột sắn dây,…

- Tăng cường luyện tập thể dục thể thao: Phải thường xuyên rèn luyện thể lực bằng các hình thức như tập thể dục, luyện khí công dưỡng sinh, thái cực quyền, yoga, đi bộ…Bạn cũng có thể áp dụng bài tập sau vào buổi sáng khi tỉnh giấc và buổi tối trước khi đi ngủ: Đầu tiên, chọn tư thế nằm ngửa, ở phần thắt lưng đặt một cái gối, đệm cao phần mông. Tiếp theo, nâng cao hai chân ở tư thế bắt chéo như ngồi xếp bằng tròn. Khi nâng cao phần mông không dùng lực, thả lỏng cơ hậu môn, duy trì tư thế này trong 2-3 phút. Ở tư thế này, do mông cao hơn tim nên máu không ứ ở hậu môn trực tràng, cơ hậu môn được thả lỏng tạo điều kiện cho huyết dịch lưu thông tốt. Đây là bài tập đơn giản mà lại tốn rất ít thời gian nhưng lại rất hiệu quả trong việc phòng tránh bệnh trĩ

Theo tiến sĩ Nguyễn Mạnh Nhâm, Chủ tịch Hội hậu môn trực tràng, cho biết, tỷ lệ mắc trĩ ở Việt Nam hiện nay lên tới 35-50%. Một nghiên cứu mới đây ở các tỉnh phía Bắc, có tới 55% dân số mắc trĩ.



Tăng nguy cơ và mức độ nặng của bệnh trĩ ở dân văn phòng

Bệnh trĩ có một phần nguyên nhân từ yếu tố nghề nghiệp. Bởi vậy những nghề phải ngồi nhiều liên tục như thợ may, lái xe, hay những người làm các công việc nặng bốc vác, thợ phu hồ... sẽ có nguy cơ cao bị trĩ. Đặc biệt hiện nay, một đối tượng mới bị trĩ tấn công là dân phòng, giới trẻ, sử dụng máy tính trong công việc, học tập, vui chơi nhiều giờ, toàn thân hầu như ít vận động.


Yếu tố này làm tăng áp lực đối với các tĩnh mạch ở hậu môn và trực tràng, nên gia tăng đáng kể số bệnh nhân mắc trĩ cũng như tăng mức độ nặng của trĩ.




Càng e ngại bệnh càng nặng

Nhưng điều đáng nói trĩ là bệnh ở chỗ kín, dẫn đến tâm lý bệnh nhân ngại khám bệnh, ngại nói với những người khác, thậm chí một số người nhất quyết không để người khác nhìn thấy “chỗ ấy”. Do vậy, hầu hết bệnh nhân đều đợi đến khi chịu không nổi nữa mới sử dụng đến các phương pháp chữa bệnh trĩ. Khi đó búi trĩ quá lâu, quá to hoặc để đến lúc quá đau đớn, gây ra những biến chứng rất nguy hiểm: tắc mạch, nứt kẽ hậu môn, sa trĩ, chảy máu ồ ạt cấp tính…


Đừng để biến chứng xảy ra


Vậy nên nếu không muốn đau đớn và đối mặt với nguy hiểm, tốt nhất bạn đừng để biến chứng xảy ra. Ngay khi có biểu hiện của bệnh trĩ nên uống nhiều nước ăn nhiều rau xanh kết hợp tập thể dục nhẹ nhàng và sử dụng một số các chế phẩm thảo dược có tác dụng điều trị trĩ an toàn.


Trước nguy cơ ngày càng nhiều người nhất là trí thức văn phòng mắc bệnh trĩ, để phòng tránh mắc bệnh “khó nói” này, các bạn nên uống một ly nước vào mỗi buổi sáng, ăn nhiều chất xơ, tập thể dục, đi đại tiện đều đặn. Đồng thời khi có triệu chứng mắc trĩ cần thăm khám sớm và sử dụng các loại thảo dược an toàn giúp điều trị sớm bệnh, tránh tai biến nguy hiểm có thể xảy ra.

Táo bón ở nam giới là một bệnh thường gặp, do người đàn ông trong xã hội hiện đại phải chịu quá nhiều áp lực, dễ dẫn đến tình trạng stress hoặc những căng thẳng từ nhiều phương diện trong cuộc sống.
thường xuyên hút thuốc, uống rượu nên ảnh hưởng trực tiếp tới thói quen sinh hoạt, đảo lộn sự vận hành của hệ tiêu hóa, từ đó dễ làm cho người bệnh dẫn đến các triệu chứng không mong muốn về táo bón cũng như những bệnh lý về đường ruột khác.
Những triệu chứng của người đàn ông khi bị táo bón mãn tinh sẽ thường thấy là: đầu lưỡi cảm thấy khá đắng khi nuốt nước bọt, chán ăn, đau âm ỉ vùng bụng dưới, chóng mặt, đau đầu, hay thở gấp v.vv....

Ngoài ra việc đại tiện khô, khó khăn trong mỗi lần đi đại tiện thường xuất hiện đối với những người bệnh bị mắc chứng táo bón, điều cần chú ý là khi bạn không thể tiến hành việc đi đại tiện như ý muốn đồng nghĩa với việc độc tố trong cơ thể đang tích lũy dần, kết hợp với tinh thần suy nhược sẽ làm bệnh tình của bạn ngày càng nặng hơn.

Táo bón là nguyên nhân dẫn đến các bệnh lý về trực tràng và hệ tiêu hóa, làm cho niêm mạc trực tràng bị tổn thương từ đó lâu dần dẫn đến việc hệ tiêu hóa bị xáo trộn, đặc biệt là với những người trong độ tuổi trung niên, lão niên, những tổn thương này sẽ làm người bệnh gặp rất nhiều phiền toái trong cuộc sống.



Táo bón có thể là biểu hiện của bệnh thiểu năng tuyến giáp hoặc phình to đại tràng bẩm sinh. Cả 2 trường hợp này thường xuất hiện táo bón rất sớm từ thời gian sơ sinh, không liên quan gì tới thay đổi chế độ ăn uống. Những trường hợp này cần đi khám bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Người đàn ông bị viêm, nứt kẽ hậu môn, mà nguyên nhân là vệ sinh không tốt hoặc do phân quá rắn gây nứt và dẫn tới viêm nhiễm. Cảm giác đau làm cho họ sợ đi đại tiện, dẫn tới táo bón càng nặng thêm. Khi đó, cần bảo đảm vệ sinh hậu môn, nếu có biểu hiện viêm nứt, có thể rửa bằng nước muối loãng, hoặc bôi mỡ kháng sinh. Nhiều trường hợp, bệnh sẽ khỏi thông qua những biện pháp vệ sinh thông thường; nếu bệnh không chuyển biến, cần đi khám bác sĩ.

Việc táo bón kinh niên sẽ gây ra các tác hại khác như là sắc tố da trở nên sạm hơn, điều này thật không hay, các độc tố có trong phân sẽ bị hấp thu qua đường máu làm tăng tốc độ lão hóa trên gương mặt bạn.

Lời khuyên từ các chuyên gia phòng khám đa khoa Thanh Trì : chúng tôi hiện nay tự hào là đơn vị đi đầu trong lĩnh vực hậu môn, trực tàng và các loại bệnh trĩ, hiên nay chứng tôi đang cho di vào ứng dụng các loại máy tân tiến như: PPH; HCPT, C00K . Với những loại máy móc này việc phẫu thuật sẽ trở nên an toàn và tiết kiệm thời gian hơn so với phương pháp truyền thống.

Phòng khám đa khoa Thanh Trì chúng tôi là cơ sở y tế chuyên nghiệp, quy tụ đội ngũ bác sỹ và y tá có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, có trách nhiệm và luôn tận tình với bệnh nhân. Chúng tôi hy vọng với trang thiết bị hiện đại cùng với những nỗ lực không ngừng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Phòng khám đa khoa Thanh Trì sẽ là sự lựa chọn đáng tin cậy của bạn.
Design by Hao Tran | Blogger Theme by Sức khỏe sinh sản -